Trong cuốn binh pháp lừng danh kim cổ Tôn tử binh pháp có nói: “Người không hiểu rõ cái hại của việc dùng binh thì không thể biết hết cái lợi của việc dùng binh”

Chiến là chết chóc, tranh là biểu hiện xấu xa của con người. Chiến tranh là điều mà nhân loại không mong muốn nhưng các hôn quân bạo chúa và những nhóm người tà ác lại rất thích, dù rằng có thể có những lúc trên miệng họ luôn rao giảng hòa bình. Tranh chiến trước là làm suy kiệt tài lực quốc gia, tàn hại nhà cửa, tài sản của dân chúng, nguy hại hơn, cha anh phơi thân ngoài chiến trường, bỏ lại đàn bà con trẻ nheo nhóc nơi hương quán. Nếu vậy thì, vì sao mà các binh gia đắc Đạo lại viết ra những cuốn binh pháp để làm khuôn mẫu cho việc tranh giành tàn bạo và đáng xấu hổ của người thời sau?

Rất đơn giản. Bởi vì nếu không có binh pháp, con người sẽ tàn hại nhau còn lâu dài và khốc liệt hơn nữa. 

Có câu “ binh bất yếm trá”, nhưng dùng binh là cần có phép tắc, có Đạo dùng binh. Chính vì thế mà “trá ngụy” chỉ vừa đủ để thủ thắng, hoặc gìn giữ nước non, chứ không thể biến thành “gian manh”. Giống như câu nói của “vua trộm” Đạo Chích: “Kẻ trộm cũng phải có Đạo”. Đạo trong Đạo Chích chính là cùng nghĩa với đạo tặc, là kẻ trộm, không phải là Đạo Đức, có Đạo hay Đại Đạo. Chính là, dù thế nào cũng phải có giới hạn, nếu không sẽ rơi vào cảnh vạn kiếp bất phục, vô cùng thê thảm. 

Thời Tôn Vũ xuất thế chính là lúc đang có tranh chiến giữa Ngô và Sở, Ngô và Việt. Thiên tượng ở Trung Quốc dời về phía Đông Nam, chính là điềm đại suy của Chu thất, đánh dấu điểm cuối cùng của triều đại nhà Chu. Hai quốc gia Ngô và Việt ở cách xa Trung Nguyên, dân không quen lễ nhạc giáo hóa, phong tục ban đầu là thuần hậu ít mưu mô, nhưng vì ở nơi toàn lương dân mà không có giáo hóa, một khi có người nảy sinh tư tâm thì vô cùng dễ nhiễm bẩn, bản tính thuần hậu của con người biến đổi trở nên hoang dã, man rợ một cách nhanh chóng. Vì vậy mà từ ông tổ Thái Bá quyết nhường ngôi cho em, đến anh em Chư Phàn khấn trời cho sớm chết để ngôi truyền cho Quý Trát – bậc hiền nhân không chịu theo lệnh cha và 3 anh nhận ngôi báu, truyền đến đời Vương Liêu và Hạp Lư là đời con cháu mà xảy ra tranh giành chém giết lẫn nhau, không còn kiêng nể gì phép tắc và tấm gương của tiền nhân nữa, là vì chưa có lễ giáo gì ước thúc họ vậy.

Vì là vận khí thiên hạ chuyển từ Tây Bắc suy xuống Đông Nam, mà Ngô Việt là hai nơi tích nhiều ân oán, lại là nơi con người hành động ít có quy tắc, lễ nghi, nếu cứ vậy mà chinh chiến với nhau thì thảm trạng vô cùng tàn khốc, họa đâu chỉ đổ lên đầu đàn ông, mà di tới vợ dại con thơ, hại đâu chỉ đến quốc gia xã tắc mà còn hại đến giống nòi. Vì vậy mà Tôn Vũ thuận ứng thiên thời xuất sơn để truyền binh pháp cho vua Ngô – Hạp Lư, chính là để mong chiến tranh vì có phương pháp mà rút ngắn thời hạn và giảm bớt tàn khốc vậy. Nhưng chỉ truyền mà không dạy, thì không có thực tiễn để dẫn giải, vì vậy mà Tôn tử lưu lại nước Ngô một thời gian để thực hành bộ binh pháp cao sâu của mình, cốt để cho hậu thế có thể hiểu rõ. 

Người ta đồn rằng sau này Tôn tử bỏ đi là bởi vì đoán biết nước Ngô ắt bị nước Việt diệt vì Hạp Lư phạm ý trời xâm lược nước Việt trong năm tuế tinh chiếu sáng, mà không rõ được rằng Hạp Lư làm vậy cũng là vì ý trời xui khiến, mà Tôn Vũ thì cũng đã biết rõ từ trước lúc xuất sơn, chẳng qua là trời xanh làm ra điềm báo cho hậu thế thấy rõ là ông trời có mắt, chẳng phải vì trời thiên vị nước Việt mà coi nhẹ nước Ngô vậy. Vì ân oán đến lúc ấy phải kết liễu, thịnh suy thành bại là phải theo dòng nước trôi đi thuận theo an bài trong lịch sử mà thôi. 

Trong binh pháp Tôn tử có đoạn: “ Không đánh mà khuất phục được người là thượng sách, để đến nỗi công chiếm thành trì là kém hơn”. 

Nếu là người hiếu chiến, thì lời này làm sao nói ra như vậy được. Có một điểm; người thời nay, nhất là những nước có nhiều ân oán với Trung Quốc dễ hiểu lầm, lấy cái thâm độc của đảng Cộng sản Trung Quốc ra so ví và đổ lỗi cho nền văn hóa của họ. Kỳ thực, tư tưởng tranh đấu hiếu chiến của đảng Cộng sản Trung Quốc vừa kế thừa từ những cặn bã mưu mô xảo trá của con người vốn sinh trưởng ở trên một quốc gia rộng lớn và phức tạp, dân cư đông đúc mà hình thành nên, nhưng nó chỉ là thanh kiếm không người vận dụng, mà lý tưởng của kẻ cầm kiếm hoàn toàn là khởi nguồn từ lý tưởng tà giáo tà ác, phản thiên địa, phản truyền thống, phản nhân sinh tạo ra. Không lạ gì, Mao Trạch Đông tuyên bố: “Đấu với trời là niềm vui vô hạn, đấu với đất là niềm vui vô hạn, đấu với người là niềm vui vô hạn”. Tâm lý hiếu chiến biến thái này không thể tìm thấy trong một binh thư nào thời cổ đại, nó không chỉ mang lại hạo kiếp cho các nước lân bang cùng thế giới, mà chính người Trung Quốc hiện đại là những nạn nhân đau khổ nhất, bi thảm nhất của một tà giáo ngoại lai thâm hiểm nhất, lưu manh nhất, tà ác nhất với sự đồng lõa của chính những kẻ phản bội quê hương mình. Âu cũng là kiếp nạn của con người.

Có câu “Thiên tính của nhân loại tẩy chay bạo lực. Bạo lực khiến người ta trở nên bạo ngược”. Chiến tranh chỉ là phương thức bất đắc dĩ, cũng là điều khó có thể phủ nhận trong tiến trình lịch sử văn minh của nhân loại. Nhưng chiến tranh tuyệt không thể được cổ vũ như điều đầu tiên cần được nghĩ đến khi xử lý các loại mâu thuẫn và xung đột, nếu không con người sẽ nhanh chóng trở nên bạo ngược không thể kiềm chế. Tuyên truyền cổ vũ chiến tranh, kích động thù hận giữa người và người, quốc gia và quốc gia, dân tộc và dân tộc, thì chẳng khác gì gieo gió sẽ gặp phải bão, điều gặp phải sẽ là hậu quả thảm khốc mà kẻ tạo ra nó tự mình phải gánh chịu. Trong hơn 100 năm qua, tốc độ trượt dốc của nhân loại đã nhanh hơn cả mấy nghìn năm trước đó, phải chăng chính một phần vì lý do này.

Cổ nhân có câu “bậc nhân giả tự yêu mình trước, bậc trí giả tự biết mình trước”. Những người ấy phàm làm gì cũng đều suy tính đến hậu quả. Nắm quyền bính trong tay, có thể tạo phúc nhưng cũng có thể gây họa cho thiên hạ. Đạo trời là vô tình nhưng công bằng, ưu ái người thiện mà ghét bỏ kẻ ác, quý trọng mạng người mà xem nhẹ quyền thế địa vị. Nên người nghĩ cho người trước chính là biết nghĩ cho mình, nhân ái với người khác chính là nhân ái với mình, đều là lẽ huyền vi nhiệm màu của tạo hóa vậy.

Tác giả: Vạn Lý Khách