Home / Binh Pháp / Binh Thư Khác / Binh pháp luận: Tướng Uyển phần 6 – Tướng tệ

Binh pháp luận: Tướng Uyển phần 6 – Tướng tệ

Tướng Uyển còn được gọi là Tân thư, Lý Mộng Dương người nhà Minh đổi thành Tâm Thư, Trương Chú nhà Thanh đổi thành Tướng Uyển. Đây là sách luận bàn về việc dùng binh của thời đại Tam Quốc ở Trung Quốc. Nó gồm có 50 thiên, khoảng 5 nghìn chữ. Trong cuốn Toại sơ đường hư mục thời Nam Tống bắt đầu ghi chép, Vương Sĩ Kỳ người thời Minh tục biên, xếp Gia Cát Lượng vào trong danh mục chư tướng. Nay có bản sao của 2 triều Minh và Thanh, nguyên tác có phải của Gia Cát Vũ hầu biên soạn hay không, ngày nay vẫn còn nhiều tranh cãi.

Sơ lược về Tướng Uyển đọc tại đây

Thiên 6 – Tệ nạn của tướng soái

Đạo tướng soái có tám tệ nạn. Một, tham lam vô đáy không biết kiềm chế. Hai, đố kị với người hiền năng. Ba, tin lời sàm ngôn, thích những lời xu nịnh. Bốn, khéo biết sức địch nhưng không biết lượng sức mình. Năm, gặp việc thì do dự không quyết đoán. Sáu, đam mê tửu sắc không tỉnh ngộ. Bảy, tính cách gian trá nhút nhát. Tám, kiêu ngạo không biết lễ nghĩa.

Bình luận

Người xưa có tiêu chuẩn nhìn nhận Thiện – Ác đúng sai rất rõ ràng. Phạm trù Thiện bao gồm có khiêm nhường, kính cẩn, bao dung, từ ái, gồm cả Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín. Phạm trù ác bao gồm có kiêu ngạo, tham lam, đố kỵ, độc ác, không quy củ, vô pháp vô thiên. Dễ nhìn nhận rằng cộng sự với người Thiện thì công việc suôn sẻ, nội bộ hài hòa, ý chí đạt được đa dạng, phong phú mà không chia rẽ. Cộng sự với người ác thì nguy cơ trùng trùng, dùng mà không thể không nghi ngờ, nghi ngờ đề phòng mà không khỏi phấp phỏng lo sợ, lo sợ mà không tránh khỏi thất bại.

Thế nên bất cứ việc gì, không chỉ việc dụng binh, kén người tốt để dùng, thấy kẻ xấu để bỏ ấy là nguyên tắc tuyệt đối, hiếm khi có thể sai lệch. Sở dĩ tính cách con người ta xấu hay tốt không phải hoàn toàn vốn bản thân người ta như thế, mà vì những tính Thiện nhỏ được nuôi dưỡng từ nhỏ nên người ta Thiện, những tính ác nhỏ được nuôi dưỡng từ nhỏ nên người ta ác. Vậy nên lời dạy con của Lưu Tiên chủ ( Lưu Bị – tự Huyền Đức) quả là chí lý: ” Chớ thấy điều ác nhỏ mà làm, chớ thấy điều Thiện nhỏ mà không làm“. Thiện ác vốn chỉ được ngăn cách bằng một đường ranh nhỏ, nhưng là khoảng cách của 2 tầng trời to lớn.

Điều này có thể so sánh Đổng Trác và Gia Cát Lượng, chúng ta sẽ thấy rõ được ngay gian.

Đổng Trác không chỉ bất tài vô dụng, mà còn tàn ác có tiếng. Lúc được giao dẹp giặc Hoàng Cân ( Khăn Vàng), Đổng Trác không dẹp nổi giặc đến nỗi bị giặc đánh thua chạy, được anh em Lưu Quan Trương ba người đánh giúp mới mong toàn mạng. Ấy vậy mà khi Trác biết 3 người đều chưa có danh phận gì, liền ra mặt khinh khỉnh không thèm cảm ơn. Người như vậy quả là kiêu ngạo vô lễ. Thua quân giặc ô hợp là đã chẳng biết lượng sức mình cũng như sức địch.

Đến lúc tiếm quyền hà hiếp vua nhỏ, tham lam vô độ, xây thành My Ô thành ấp riêng, chứa đủ lụa là, gấm vóc, vàng ngọc của quý trong thiên hạ, đến nỗi thiên hạ ta thán không ngớt lời.

Đánh tiếng hành quân đánh giặc để áp chế triều đình, lại đưa quân lính đi giết chóc dân lành tàn bạo rồi chém đầu mang về tâng công. Trong Tam Quốc Diễn Nghĩa có đoạn như sau:

Thường thường Trác hay đem quân ra ngoài thành. Một bữa Trác đến Dương Thành. Bấy giờ tháng hai, dân mở hội hát, nam nữ tụ hội rủ nhau xem hội rất đông. Trác sai quân vây cả lại, giết sạch, cướp đàn bà con gái và của cải chất đầy xe, treo hơn một nghìn đầu lâu dưới xe, nối đuôi nhau kéo về kinh đô, nói phao lên đi đánh giặc thắng trận

Chính vì tàn ác, tham lam, kiêu ngạo như vậy, Trác không những phạm vào tội của người mà còn phạm luật của trời, thiên địa bất dung. Sau này chính Lã Bố là con nuôi Đổng Trác đã giết Trác, Trác bị chém phơi thây ngoài chợ, dân chúng rủ nhau lấy bấc cắm vào rốn đốt mỡ Trác cháy mấy ngày. Sau này Lý Thôi Quách Dĩ là bộ hạ của Trác làm loạn, rồi mang thây Trác đi táng, cuối cùng bị trời nổi sét đánh, nước dâng, táng mấy lần không được.

Ngược lại Đổng Trác là chính Gia Cát Lượng. Từ lúc ông rời khỏi Long Trung, cúc cung tận tụy phò tá Lưu Bị và con trai ông, mặc cho quyền lực cao nhất triều đình, công cao át chủ, nhưng chưa bao giờ Lưu Bị và con trai ông là Lưu Thiện phải mảy may nghi ngờ dã tâm của Vũ hầu, ông cầm quân là như ý, về triều tâu trình là được nghe, nhưng chưa từng thấy ông vượt quá chức phận của người bề tôi, lưu danh thiên cổ trung trinh mưu lược.

Đến nỗi sau này ông mất ở gò Ngũ Trượng, dân chúng Hán Trung than khóc muốn lập đền thờ, nhưng Hậu chủ không cho, dân gian phải lập đền thờ trộm, tràn lan khắp đất Thục, đến độ Hậu chủ bắt buộc phải cho lập đền thờ ông như một vị phúc Thần cho dứt tuyệt nạn ấy.

Ác tâm chẳng những hại người, mà còn hại cả mình. Thành tâm thì lưu danh thiên cổ, vạn thuở không phai.

Phiên âm

Phù vi tướng chi đạo, hữu bát tệ yên. Nhất viết tham nhi vô yếm, nhị viết đố hiền tật năng, tam viết tín sàm háo nịnh, tứ viết liệu bị bỉ bất tự liệu, ngũ viết do dự bất tự quyết, lục viết hoang dâm vu tửu sắc, thất viết gian trá nhi tự khiếp, bát viết giảo ngôn nhi bất dĩ lễ.

About Vô Bích