Hoàng Phách thiền sư thi gồm 14 bài thơ, đã dự ngôn về các đại sự lịch sử từ đời Minh cho đến những sự kiện lớn diễn ra hiện nay. Những sự kiện đã xảy ra về cơ bản là đều ứng nghiệm.

VIII. Khổ 8

Đồng tâm tá trị vận trung hưng
Nam Bắc phong yên nhất tảo bình
Nhất kỷ cương chu dương nhất phục
Hàn băng không tự chiến căng căng

Nghĩa đen:

Đồng tâm Trị sửa vận trung hưng
Khói gió Bắc Nam dẹp yên bình
Một kỷ tuần hoàn dương trở lại
Băng lạnh đơn thân rét run người

1. Đồng tâm tá trị vận trung hưng (Đồng tâm Trị sửa vận trung hưng)

Câu này là chỉ thời kỳ vua Đồng Trị, nhà Thanh trung hưng, gọi là “Đồng trị trung hưng” (1862 – 1874), mở ra phong trào học phương Tây. Về chính trị có xuất hiện thời kỳ khá bình hòa.

2. Nam Bắc phong yên nhất tảo bình (Khói gió Bắc Nam dẹp yên bình)

Câu này ý nói, thời kỳ Đồng Trị, các cuộc khởi nghĩ của Thái Bình Thiên Quốc và các cuộc nổi loạn của người dân đều bị dẹp yên.

3. Nhất kỷ cương chu dương nhất phục (Một kỷ tuần hoàn dương trở lại)

Câu này là chỉ vừa tròn một kỷ (12 năm), vừa hết một kỷ, đến “dương nhất phục” tức tháng 11 âm lịch vừa qua, ngày 5 tháng 12 âm lịch Đồng Trị băng hà.

4. Hàn băng không tự chiến căng căng (Băng lạnh đơn thân rét run người)

Thời kỳ Đồng Trị là thời kỳ gian nguy, như đi trên băng mỏng, tuy cố gắng duy trì cục diện “Đồng Trị trung hưng”, nhưng thù trong giặc ngoài không ngừng, nguy cơ xảy ra bất cứ lúc nào. Ngoài ra lại có Thái hậu hai cung buông rèm nhiếp chính, Đồng Trị còn rất ít tuổi lên ngôi, giống như bù nhìn vậy.

Thời kỳ Đồng Trị là thời kỳ gian nguy, như đi trên băng mỏng, tuy cố gắng duy trì cục diện “Đồng Trị trung hưng”, nhưng thù trong giặc ngoài không ngừng, nguy cơ xảy ra bất cứ lúc nào.
Thời kỳ Đồng Trị là thời kỳ gian nguy, như đi trên băng mỏng, tuy cố gắng duy trì cục diện “Đồng Trị trung hưng”, nhưng thù trong giặc ngoài không ngừng, nguy cơ xảy ra bất cứ lúc nào. (Wikipedia)

IX. Khổ 9

Quang mang thiểm thiểm kiến tai tinh
Thống Tự bàng diên tín hữu bằng
Tần Tấn nhất gia nhưng đỉnh túc
Hoàng viên vận ngột lực nan thắng

Nghĩa đen:

Tia sáng lấp lánh ánh sao tai
Thống Tự con nuôi tín làm bằng
Tần Tấn một nhà nhưng chân vạc
Khỉ vàng vận hết lực không thành.

1. Quang mang thiểm thiểm kiến tai tinh (Tia sáng lấp lánh ánh sao tai)

Quang là chỉ vua Quang Tự, tại vị trong thời gian 1875 – 1908, đã xảy ra chiến tranh Trung – Nhật, chiến tranh Giáp Ngọ, chính biến Mậu Tuất, và bạo loạn Nghĩa Hòa Đoàn, Liên quân 8 nước, tai họa không ngừng.

2. Thống Tự bàng diên tín hữu bằng (Thống Tự con nuôi tín làm bằng)

Thống Tự là chỉ hai vua Tuyên Thống và Quang Tự. Đồng Trị là con đẻ của Từ Hy Thái hậu, khi Đồng Trị băng hà không có con nối dõi, Từ Hy nhận con thân vương là Quang Tự và Tuyên Thống làm con nuôi.

3. Tần Tấn nhất gia nhưng đỉnh túc (Tần Tấn một nhà nhưng chân vạc)

Câu này là nói Quang Tự không phải con đẻ của Từ Hy Thái hậu, mà là con nuôi, về bề ngoài như là một nhà, cùng với thế lực thái giám thành thế chân vạc. Thời gian Thái hậu buông rèm nhiếp chính, Quang Tự chỉ là bù nhìn. Năm 1898 (Mậu Tuất), vua Quang Tự tiến hành chính biến, muốn thoát khỏi sự khống chế của Thái hậu nhưng bị thất bại.

Thời gian Thái hậu buông rèm nhiếp chính, Quang Tự chỉ là bù nhìn. Năm 1898 (Mậu Tuất), vua Quang Tự tiến hành chính biến, muốn thoát khỏi sự khống chế của Thái hậu nhưng bị thất bại.
Thời gian Thái hậu buông rèm nhiếp chính, Quang Tự chỉ là bù nhìn. Năm 1898 (Mậu Tuất), vua Quang Tự tiến hành chính biến, muốn thoát khỏi sự khống chế của Thái hậu nhưng bị thất bại. (Wikipedia)

4. Hoàng viên vận ngột lực nan thắng (Khỉ vàng vận hết lực không thành)

Hoàng viên là chỉ năm Mậu Thân, ngũ hành Mậu thuộc Thổ, màu vàng, còn Thân là khỉ. Năm Mậu Thân (1908) Tuyên Thống lên ngôi khi mới 3 tuổi, lúc này nhà Thanh đã đến ngày tận thế, không có sức xoay chuyển thế cuộc nữa. 3 năm sau, Tuyên Thống tuyên bố thoái vị, nhà Thanh diệt vong.

X. Khổ 10

Dụng võ thời đương bạch hổ niên
Tứ phương các tự khởi phong yên
Cửu châu hựu kiến tam phân định
Thất tải nhưng lưu nhất tuyến diên

Nghĩa đen:

Dụng võ nên ở năm hổ trắng
Bốn phương khói lửa nổi nơi nơi
Chín châu lại thế Tam phân định
Bảy năm lưu lại một giây này.

1. Dụng võ thời đương bạch hổ niên (Dụng võ nên ở năm hổ trắng)

Màu trắng thuộc Kim, phương Tây. năm 1914 (năm hổ), chiến tranh thế giới lần thứ nhất ở phương Tây nổ ra.

2. Tứ phương các tự khởi phong yên (Bốn phương khói lửa nổi nơi nơi)

Sau khi chiến tranh thế giới nổ ra, khắp nơi trên thể giới bùng nổ khói lửa can qua.

3. Cửu châu hựu kiến tam phân định (Chín châu lại thế Tam phân định)

Lúc này Trung Quốc xuất hiện thế cuộc cát cứ, chia làm 3 thế lực lớn: Chính quyền quân phiệt Bắc Dương; Chính quyền Dân Quốc của Tôn Trung Sơn; và ngụy quyền nhà nước ngụy Mãn Châu do các thế lực quân Nhật xâm chiếm Trung Quốc dựng lên.

4. Thất tải nhưng lưu nhất tuyến diên (Bảy năm lưu lại một dây này)

7 và 1 ở đây tổng cộng là chỉ 8 năm quân đội Dân Quốc kháng chiến chống Nhật (1937 – 1945).

Tưởng Giới Thạch - người lãnh đạo quân đội Quốc Dân đảng kháng chiến chống Nhật.
Tưởng Giới Thạch – người lãnh đạo quân đội Quốc Dân đảng kháng chiến chống Nhật. (Wikipedia)

XI. Khổ 11

Hồng kê đề hậu quỷ sinh sầu
Bảo vị phân tranh bán bích hưu
Hạnh hữu kim ngao năng đới chủ
Kỳ phân bát diện há Tần Châu

Nghĩa đen

Gà đỏ cất tiếng quỷ sinh sầu
Ngôi báu phân tranh một nửa tiêu
May có ngao vàng còn mang chủ
Cờ chia 8 mặt xuống Tần Châu

1. Hồng kê đề hậu quỷ sinh sầu (Gà đỏ cất tiếng quỷ sinh sầu)

ĐCSTQ sau khi chiếm lĩnh Trung Quốc thì bản đồ hình con gà, do đó “gà đỏ” là chỉ ĐCSTQ. Năm 1945 (năm gà) ĐCSTQ phát động cuộc nội chiến toàn diện, cuối cùng đã độc chiếm Trung Quốc, tàn sát vô số người dân Trung Quốc.

2. Bảo vị phân tranh bán bích hưu (Ngôi báu phân tranh một nửa tiêu)

Trong cuộc chiến với ĐCSTQ, chính quyền Trung Hoa Dân Quốc lần lượt thất thế, rồi mất một nửa giang sơn miền Nam, cuối cùng thất bại phải chạy ra đảo Đài Loan.

3. Hạnh hữu kim ngao năng đới chủ (May có ngao vàng còn mang chủ)

Ngao vàng là rùa Thần trong truyền thuyết, sống ở dưới biển, là tượng trưng của giàu có. Đài Loan trông giống một con ngao vàng giữa biển. Sau khi thất bại, Tưởng Giới Thạch dẫn tướng sĩ cùng một số người dân lùi về Đài Loan, đã giữ được thực lực cuối cùng. Sau thời cha con Tưởng Giới Thạch trị vì, Đài Loan đã bước vào thời kỳ rất giàu có.

Đài Loan trông giống một con ngao vàng giữa biển. Sau thời cha con Tưởng Giới Thạch trị vì, Đài Loan đã bước vào thời kỳ rất giàu có.
Đài Loan trông giống một con ngao vàng giữa biển. Sau thời cha con Tưởng Giới Thạch trị vì, Đài Loan đã bước vào thời kỳ rất giàu có. (Wikimedia Commons)

4. Kỳ phân bát diện há Tần Châu (Cờ chia 8 mặt xuống Tần Châu)

Quân chủ lực của ĐCSTQ ký hợp tác với quân đội Dân Quốc đã đổi tên thành Bát Lộ Quân, lợi dụng quân đội Dân Quốc phải giao chiến với quân Nhật nên đã thừa cơ phát triển lực lượng lớn mạnh, và mượn sức mạnh của Liên Xô, sau khi Liên Xô rút quân khỏi vùng Đông Bắc thì tiến vào chiếm lĩnh Đông Bắc. Trong cuộc chiến Quốc – Cộng, quân đội ĐCSTQ tiến xuống phía Nam, cuối cùng chiếm được toàn bộ lục địa Trung Quốc.

XII. Khổ 12

Trung hưng sự nghiệp phó lân nhi
Thỉ hậu ngưu tiền diệu đức nghi
Kế thống thiên an tam thập lục
Tọa khán cảnh ngoại huyết như nê

Nghĩa đen

Sự nghiệp trung hưng cậy kỳ lân
Sau lợn trước trâu đức uy nghi
Kế thừa chính thống ba mươi sáu
Ngồi xem bên ngoài máu như bùn

1. Trung hưng sự nghiệp phó lân nhi (Sự nghiệp trung hưng cậy kỳ lân)

Sau khi Tưởng Giới Thạch qua đời, sự nghiệp phục hưng Trung Quốc giao phó cho con trai là Tưởng Kinh Quốc.

2. Thỉ hậu ngưu tiền diệu đức nghi (Sau lợn trước trâu đức uy nghi)

Năm tý sau năm Hợi, trước năm Sửu, do đó gọi là sau lợn trước trâu. Năm 1972 (năm chuột), Tưởng Kinh Quốc chức thủ tướng (hành chính viện trưởng), từ đó Đài Loan bắt đầu thời kỳ “Tưởng Kinh Quốc” phồn vinh.

3. Kế thống thiên an tam thập lục (Kế thừa chính thống ba mươi sáu)

Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan) kéo dài long mạch Trung Hoa, kế thừa Đạo thống Trung Hoa chính tông. Nhưng sau thời cha con Tưởng Giới Thạch nắm quyền, Đạo thống Trung Hoa mà Trung Hoa Dân Quốc kế thừa đã bị đứt mạch thất truyền. Từ khi Tưởng Giới Thạch rút ra Đài Loan (năm Canh Dần), cho đến khi Tưởng Kinh Quốc qua đời (Năm Đinh Mão), là tròn 36 năm, luôn giữ được thế cuộc yên định. Sau đó Đài Loan chuyển sang thời đại các đảng phái phân tranh, Đạo thống Trung Hoa đứt đoạn thất truyền.

Tưởng Giới Thạch và Tưởng Kinh Quốc nắm quyền tròn 36 năm, luôn giữ được thế cuộc yên định. Sau đó Đài Loan chuyển sang thời đại các đảng phái phân tranh, Đạo thống Trung Hoa đứt đoạn thất truyền.
Tưởng Giới Thạch và Tưởng Kinh Quốc nắm quyền tròn 36 năm, luôn giữ được thế cuộc yên định. Sau đó Đài Loan chuyển sang thời đại các đảng phái phân tranh, Đạo thống Trung Hoa đứt đoạn thất truyền. (Ảnh chụp video)

4. Tọa khá cảnh ngoại huyết như nê (Ngồi xem bên ngoài máu như bùn)

Chính quyền Dân Quốc giữ Đài Loan, nhìn qua bờ bên kia eo biển, đại lục Trung Quốc đã chịu tai họa của ĐCSTQ, người dân bị tàn sát máu chảy thành sông.

XIII. Khổ 13

Xích thử thời đồng vận bất đồng
Trung Nguyên hảo cảnh bất vi công
Tây phương tái kiến Nam quân chí
Cang đáo kim xà vận dĩ chung

Nghĩa đen:

Chuột đỏ thời và vận đổi thay
Cảnh đẹp Trung Nguyên chẳng phải công
Phương Tây lại thấy quân Nam đến
Vừa đến rắn vàng vận đã xong

1. Xích thử thời đồng vận bất đồng (Chuột đỏ thời và vận đổi thay)

Năm 1948 (Mậu Tý), chính quyền Dân Quốc thất thế, bắt đầu rút lui, ĐCSTQ bắt đầu dần dần chiếm lĩnh toàn bộ lục địa Trung Quốc. Đến năm 2020 (Canh Tý), ĐCSTQ bắt đầu quá trình diệt vong. Vận mệnh của ĐCSTQ nằm ở giữa 2 năm Tý. ĐCSTQ sùng bái màu đỏ nên gọi là chuột đỏ. Một năm Tý thì ĐCSTQ bắt đầu độc chiếm Trung Quốc, còn một năm Tý thì bắt đầu diệt vong, hai năm này đều là năm chuột, nhưng thời và vận đã đổi thay.

Vận mệnh của ĐCSTQ nằm ở giữa 2 năm Tý. Một năm Tý thì ĐCSTQ bắt đầu độc chiếm Trung Quốc, còn một năm Tý thì bắt đầu diệt vong. (Tổng hợp)
Vận mệnh của ĐCSTQ nằm ở giữa 2 năm Tý. Một năm Tý thì ĐCSTQ bắt đầu độc chiếm Trung Quốc, còn một năm Tý thì bắt đầu diệt vong. (Tổng hợp)

Năm 1948 (Mậu Tý) ĐCSTQ bắt đầu đắc thế đánh lui quân đội Dân Quốc, và năm 1949, chỉ sau một năm đã hoàn thành chiếm đóng toàn bộ đại lục Trung Hoa. Năm 2020 (Canh Tý) ĐCSTQ cũng bắt đầu quá trình diệt vong: chiến tranh thương mại, dịch bệnh, thiên tai nhân họa liên miên, và quốc tế đã bắt đầu hình thành liên minh chống ĐCSTQ, vì vậy cũng có thể giống với khởi đầu, sau 1 năm quá trình diệt vong hoàn thành, tức năm 2021, cũng có thể sớm hơn là vào năm 2020 hoặc muộn hơn vào năm nào đó, nhưng tối đa không quá năm 2025 (xem phần dưới).

2. Trung Nguyên hảo cảnh bất vi công (Cảnh đẹp Trung Nguyên chẳng phải công)

Về bề mặt thì Trung Quốc nhất thời phồn hoa, nhưng không kéo dài, và đó cũng không phải công lao của ĐCSTQ, nó không che đậy được tội ác tày trời mà ĐCSTQ đã gây họa hoạn cho Trung Hoa, tàn sát người dân Trung Quốc suốt hơn 70 năm qua.

3. Tây phương tái kiến Nam quân chí (Phương Tây lại thấy quân Nam đến)

Lực lượng tiêu diệt ĐCSTQ lại thấy xuất hiện ở phương Tây, đứng đầu là Mỹ đã hình thành thế cuộc toàn thế giới tiêu diệt ĐCSTQ, hiện quá trình này đang tiến hành.

Lực lượng tiêu diệt ĐCSTQ lại thấy xuất hiện ở phương Tây, đứng đầu là Mỹ đã hình thành thế cuộc toàn thế giới tiêu diệt ĐCSTQ, hiện quá trình này đang tiến hành.
Lực lượng tiêu diệt ĐCSTQ lại thấy xuất hiện ở phương Tây, đứng đầu là Mỹ đã hình thành thế cuộc toàn thế giới tiêu diệt ĐCSTQ, hiện quá trình này đang tiến hành. (Tổng hợp)

4. Cang đáo kim xà vận dĩ chung (Vừa đến rắn vàng vận đã xong)

Đến năm 2025 (Ất Tị), nền văn minh cũ của nhân loại kết thúc, toàn nhân loại bước vào kỷ nguyên hoàn toàn mới.

Trong dự ngôn Thái Bạch Sơn Bi Ký và Thôi Bi Đồ của Lưu Bá Ôn có dự ngôn rằng: từ năm 2020 đến năm 2025 (năm rắn) là thời kỳ đào thải nhân loại, Trời giáng các loại tai họa, sẽ có rất nhiều người bị đào thải trong các tai họa này. Sau năm 2025, nhân loại bình an vượt qua đại kiếp nạn sẽ bước vào thời kỳ văn minh hoàn toàn mới, đạo đức sẽ khôi phục vượt cả những thời kỳ tốt đẹp nhất trong lịch sử, mở ra một tương lai hoàn toàn mới mẻ và tốt đẹp.

XIV. Khổ 14

Nhật nguyệt thôi di tự chuyển luân
Ta dư xuất thế cánh vô nhân
Lão tăng tòng thử hưu nhiêu thiệt
Hậu sự hoàn tu vấn hậu nhân

Nghĩa đen:

Tháng ngày trôi tựa bánh xe quay
Than ta ra đời chẳng nhân duyên
Lão tăng từ đây thôi múa mép
Việc sau còn phải hỏi người sau

Khổ cuối cùng không phải là dự ngôn, mà là lời kết, ý nghĩa là sự việc sau này không thể nào suy đoán ra được nữa, bởi vì sự việc sau đó không còn thuộc về nền văn minh và dịch số cũ nữa, mà thuộc về văn minh và dịch số của vũ trụ hoàn toàn mới, do đó không thể nào dự đoán được. Chỉ những người vượt qua đại kiếp nạn này, bước vào nhân loại kỷ nguyên mới thì mới có thể biết được. Khổ thơ này hoàn toàn cùng ý nghĩa với câu kết của Mã Tiền Khóa của Gia Cát Lượng: “chiêm đắc thử khóa, dịch số nãi chung” – chiêm bói được quẻ này đến đây thì dịch số đã hết.

(Hết)