Ngoại trừ các nước không có đường bờ biển như Mông Cổ, Lào, Buhtan,…. thì đường biển ngày nay trở thành một lợi thế không thể xem nhẹ của tất cả các nước. Vận tải, chuyên chở hàng hóa xuất nhập khẩu, tài nguyên khoáng sản, dầu mỏ, khí đốt, nguồn thực phẩm hải sản,vv… Nếu tận dụng tốt và có một lực lượng hải quân đủ mạnh, biển cả trở thành vùng đệm cho an ninh quốc gia, nhưng nếu không như vậy, thì biển cả cũng có thể trở thành mối đe dọa khi các nước thù địch xâm phạm. Việc có một lực lượng hải quân mạnh mẽ là vô cùng cần thiết. Chúng ta hãy điểm qua hải quân các nước trong khu vực và trên thế giới, để xem các nước có những gì!?

Hải quân Việt Nam

Hải quân Việt Nam

Một lực lượng hải quân chưa phát triển

Sức mạnh hải quân một quốc gia được đánh giá dựa trên nhiều yếu tố. Từ khả năng vươn xa của nó khỏi bờ biển của quốc gia đó, đến số lượng và chất lượng các loại vũ khí mang theo. Đôi khi nó có thể bao gồm vị trí địa lý của quốc gia đó, một số người quen dùng nó với khái niệm khá học thuật: Địa chính trị. Vị trí này của quốc gia có thể đảm bảo sự phụ thuộc của các quốc gia liên quan đến vị trí đó, mà đôi khi cũng không cần thực hiện việc vươn xa bằng các tàu hải quân cỡ lớn.

Về tất cả các khía cạnh trên thì có thể nói rằng, Hải quân Việt Nam hiện nay ở một vị trí rất khiêm tốn. Trong nhiều năm, đội tàu chiến của chúng ta không sự thay đổi gì, vẫn chỉ giữ nguyên các tàu chiến từ thời chiến tranh 2 miền Nam Bắc do Liên Xô viện trợ. Chủ yếu là các tàu phóng lôi cỡ nhỏ dưới 500 tấn. Những tàu chiến này có tốc độ cao, sự cơ động và hỏa lực đe dọa tàu thuyền khá mạnh mẽ, đặc biệt có lợi thế ở những vùng biển nhỏ ven bờ, với chiến thuật tấn công chớp nhoáng – lẩn trốn nhanh chóng. Nhưng nó không có khả năng duy trì sự hiện diện của một lực lượng quân sự khi xảy ra tranh chấp hoặc xung đột. Cũng dễ dàng làm bia tập bắn cho những quốc gia đối địch có sức mạnh không quân mạnh mẽ. Trong khu vực biển Đông hiện đang là một trong những điểm nóng quân sự hàng đầu hiện nay, thì đối thủ của một Hải quân Việt Nam chưa phát triển ấy là một nước Trung Quốc giàu có đã tích lũy được khá nhiều tiền bạc, tài nguyên và sức mạnh quân sự đang dược nâng lên từng ngày nhờ tiềm lực kinh tế thúc đẩy ấy, dù họ đang có sự phát triển không bên vững, thì đó cũng là vấn đề rất đang lưu tâm.

Tàu phóng lôi HQ-361

Hải quân hiện đại có yêu cầu rất lớn ở khả năng chống ngầm và phòng không. Không có một lực lượng phòng không và chống ngầm hiện đại và có sức mạnh, việc vươn các tàu chiến ra đại dương hoặc ngay trong biển Đông sân nhà là một điều vô cùng nguy hiểm. Các tên lửa chống hạm được phóng từ máy bay và ngư lôi từ tàu ngầm hiện nay rất có uy lực, đủ sức kết liễu một tàu chiến cỡ lớn chỉ bằng 1 đầu đạn, vì vậy, dong thuyên ra khơi đối đầu với những vũ khí loại này khi không có phương tiện chống lại chúng tương đương với tự sát.

Sức mạnh chủ yếu

Hải quân Việt Nam hiện nay sở hữu 4 tàu Gepard 3.9, loại tàu hộ vệ mới đưa vào mấy năm gần đây do Nga sản xuất với lượng giãn nước khiêm tốn là 2.100 tấn. Về năng lực chống hạm và chống ngầm, Gepard có thể là một tàu chiến tương đối tốt trong các vùng biển không quá lớn, và các trận xung đột nhỏ. Nhưng nó lại quá yếu kém về phòng không. Một số tờ báo của Việt Nam hiện tại tuyên bố Gepard đủ sức làm soái hạm, nhưng trên thực tế nếu lâm vào một trận chiến giằng co kéo dài và phải đối đầu với không quân đối phương, và nếu lực lượng không quân ấy có những tên lửa chống hạm phóng từ máy bay hiệu quả, không khó để hình dung số phận của các tàu hộ vệ loại nhỏ này.

Hiện diện trong lực lượng này cũng còn có 6 tầu ngầm Kilo đề án 636 cũng do Nga chế tạo. Đây là loại tàu ngầm được đánh giá khá cao trên thế giới. Với 6 tàu ngầm Kilo này trong biên chế, hải quân Việt Nam sở hữu khả năng răn đe tương đối đáng sợ, vì tên lửa hành trình Kalibr nó mang theo. Theo như thông tin sơ lược, loại tên lửa Kalibr Nga bán cho Việt Nam có tầm bắn 300 km, trong khi phiên bản nội địa của Nga có tầm bắn 1.500 đến 2.500 km. Dù chỉ với tầm bắn 300km, thì biên đội tàu ngầm Việt Nam cũng đã sở hữu sức mạnh răn đe khá đáng sợ, hơn rất nhiều so với khoảng 10 năm trước khi Hải quân của đất nước hình Thái cực này chưa sở hữu các tàu ngầm và tàu Gepard này. Nó khiến cho các đối thủ chính, mà đặc biệt là Trung Quốc ở đây phải dè chừng, vì hạm đội Nam Hải đóng tại đảo Hải Nam có thể nằm trong tầm oanh tạc của các tên lửa uy lực đó.

Hải quân nước ta cũng sở hữu 12 tàu tên lửa tấn công nhanh Molniya với lượng giãn nước khiêm tốn chỉ khoảng 500 tấn, nhưng được tranh bị vũ khí chống hạm khá mạnh. 4 chiếc được sản xuất ở Nga trang bị 4 tên lửa P-15Termit, và 8 chiếc sản xuất theo giấy phép và công nghệ người Nga bàn giao ở Việt Nam trang bị 16 tên lửa chống hạm Kh-35 Uran E, phiên bản dành cho xuất khẩu của loại tên lửa này của Nga. Với đội tàu này, hải quân Việt Nam sở hữu một lực lượng răn đe mặt nước khá mạnh trong khu vực.

Tàu tên lửa tấn công nhanh Molniya

Sức mạnh còn thiếu

Nằm ở một vị trí là điểm nóng về tranh chấp, cũng là tuyến đường biển nhộn nhịp của thế giới, nơi hàng năm vận chuyển 5,3 nghìn tỷ USD hàng hóa đi qua, trong đó rất nhiều tàu chở dầu cung cấp cho 2 nền kinh tế khổng lồ là Trung Quốc và Nhật Bản, cùng với các nền kinh tế lớn như Hàn Quốc và Đài Loan từ các nước OPEC. Cùng với lượng dầu khí dồi dào, nguồn hải sản phong phú, biển Đông dễ dàng trở thành mối nguy hiểm tiềm tàng mà nếu không có một sức mạnh hải quân đủ lớn, nó sẽ là vấn đề đau đầu với những nhà hoạch định chính sách quốc gia.

Tàu khu trục

Thực tế thì hải quân Việt Nam còn không sở hữu các khinh hạm có sức mạnh đủ lớn (Thông thường các khinh hạm có lượng giãn nước từ 3000 đến 6000 tấn) , chứ chưa nói đến các tàu khu trục (từ 7000 – 10.000 tấn) là xương sống của một lực lượng hải quân mạnh mẽ. Với đường bờ biển 3000km và nhiều hải đảo, nếu có tiềm lực sẽ có thể có nhiều căn cứ cho các tàu chiến và tàu ngầm neo đậu, đủ sức đương đầu trong những cuộc xung đột kéo dài. Nhưng tiềm lực của quốc gia hạn chế, cùng với một nền kinh tế không phát triển đủ tốt, tình trạng sử dụng ngân sách kém hiệu quả trong nhiều năm, nhất là trong giai đoạn được hỗ trợ và đầu tư rất nhiều từ nước ngoài khiến Việt Nam không có nhiều quân cảng để sử dụng. Một khi xung đột nổ ra, thậm chí các tàu ngầm của chúng ta cũng rất khó có thể thoát khỏi các quân cảng hiện nay nếu kẻ địch có ý đồ phong tỏa trước, và như thế là mất đi hoàn toàn lợi thế của 6 tàu ngầm trị giá hàng tỷ USD. Nghiêm trọng hơn, nó không đủ đảm bảo an ninh cho quốc gia và người dân, cùng sự ổn định để phát triển.

Trong khi đó, hải quân các nước trong khu vực không tính Trung Quốc, cũng sở hữu sức mạnh khá uy lực như Singapore có các tàu chiến Formidable với số lượng 6 chiếc, lượng choán nước 3.200 tấn, sở hữu cả khả năng phòng không và chống ngầm rất tốt trong khi vẫn duy trì sức mạnh chống hạm mạnh mẽ. Indonesia và Thái Lan cũng là các lực lượng Hải quân mạnh, trong đó Thái Lan sở hữu tàu sân bay loại nhỏ do Tây Ban Nha đóng từ những năm 1996, Indonesia thì có ý định trang bị các tàu khu trục của Đức.

Việt Nam sẽ còn cần đi những bước dài, để tiến đến một nền hải quân mạnh mẽ của một quốc gia có vị thế là một cường quốc trên biển.

Quân Sự Mở Nét