Trần Bình, thừa tướng mưu lược nổi tiếng nhà Hán trước khi mất từng thốt ra lời than thở: ” Ta nhiều âm mưu, đó là điều Đạo Gia (đạo Lão) cấm, hết đời ta là thôi, đời sau không thể hưng khởi được nữa. Đó là vì ta nhiều âm báo ” Quả thực đời sau của Trần Bình không có ai hưng vượng

Thân làm mưu thần tướng soái không cẩn thận thường mang lấy sát nghiệp nặng nề. Bạch Khởi – danh tướng hiển hách của nước Tần thời Chiến quốc, đã đánh là thắng, thông hiểu quyền biến cơ mưu, nhưng vì sát hại 20 vạn quân Triệu đã đầu hàng mà gần nghìn năm sau vẫn phải đọa kiếp trâu bị sét đánh chết giữa đời Đường, đủ thấy báo ứng vô cùng nghiêm khắc.

Phàm binh đạo thường phải luận giao tranh, mà tranh giành mưu mẹo là trái với Đạo Trời thanh tĩnh vô vi, dạy mà không lời, thi ân cho vạn vật mà không cần báo đáp. Có chăng vì lẽ thịnh suy, cứ mỗi 5000 năm một nền văn minh theo đúng chu kỳ của Lão tử giảng:” Đạo mất rồi mới có Đức, Đức mất rồi mới có Nhân, Nhân mất rồi mới có Nghĩa, Nghĩa mất rồi mới có Lễ. Lễ là biểu hiện suy vi của trung hậu thành tín, là giường mối của hỗn loạn” Trong 5000 năm Trung Hoa khởi đầu từ thời Hoàng Đế ấy, chẳng phải Tam Quốc hồi những năm 200 vừa khớp với giai đoạn biểu hiện của Nghĩa hay sao. Còn sau đó suốt hơn nghìn năm thì dùng Lễ của Nho gia để trị quốc hay sao! Bây giờ chẳng phải là suy đồi hết rồi, đúng như ý sau của câu nói của Lão tử vậy.

Văn Chủng đã làm gì?

Văn Chủng bày cho Việt Vương 7 mưu kế để làm suy yếu và thôn tính nước Ngô, giúp Việt Vương Câu Tiễn báo thù tuyết hận, về đạo trung vua ái quốc thì có thể là công thần, nhưng về đạo trời thì gây ra nghiệp báo to lớn.

Vua Việt nghe theo kế của Văn Chủng, tuyển mỹ nữ là Tây Thi tiến cống Ngô vương phù sai, khiến Phù Sai vì đắm say nữ sắc mà lỗi đạo quân vương, phụ tử, vua tôi, để thỏa tình riêng với Tây Thi mà bắt dân xây dựng Cô Tô đài lộng lẫy để mua vui cho người đẹp, bao nhiêu tội nghiệp ấy, há để riêng Phù Sai chịu hết làm sao! Ngay như dòng dõi vua Việt cũng nối đời không được xa, đủ thấy cái nguy hại của mưu kế tranh giành.

Văn Chủng bày kế vay thóc của Ngô cho dân ăn lúc đói, trả thóc đã luộc nước sôi cho dân Ngô. Dân Ngô thấy thóc đẹp để lại làm giống gieo, biết đâu là mưu kế Văn Chủng đã lựa thóc tốt mà luộc chín hết, khiến cho mùa màng thất bát, cả nước Ngô đói khát sầu thảm mấy năm trời, tội Văn Chủng chẳng phải quá to lớn rồi hay sao!

Nước Việt cho thợ lên rừng chọn 2 cây gỗ tốt nhất, chặt xuống đẽo gọt đẹp đẽ, mang sang hiến cho Ngô vương xây dựng Cô Tô đài, khiến cho dân chúng nước Ngô lầm than, của kho nước Ngô cạn kiệt, chẳng phải gieo họa cho người mà tự chuốc nghiệp vào người đó sao.

Thực ra Tôn Vũ tử khi còn nắm binh quyền ở nước Ngô đã có lời nói trước với Ngũ Viên rằng, 40 năm sau nước Việt ắt thịnh mà nước Ngô phải vong chỉ vì Ngô vương lúc trước là Hạp Lư – tức là ông nội của Phù Sai nhất định gây chuyện binh đao với nước Việt vào năm nước Việt có tuế tinh. Quả thực đúng với câu nói: “Xưa nay binh đao là việc gở” vậy. Vì lý của thế gian là có chiến tranh, việc binh bị giữa các nước có thể xảy ra, nhưng ngược với ý trời trừng phạt vua và dân nước ấy, thì lại mang lấy tội nghiệp sâu nặng. Tôn Vũ tinh thông binh pháp, nhận thức thiên ý đã cảnh báo mà Hạp Lư không nghe, đến nỗi cơ đồ bị định sẵn diệt vong trong mấy chục năm ngắn ngủi.

Nhưng việc Văn Chùng cùng vua Việt dùng những cách tàn nhẫn để hủy diệt nước Ngô thay vì thuận theo an bài của thiên ý, đã mang đến kết cục không có hậu cho cả nước Việt và Văn Chủng.

Thế còn Phạm Lãi

Phạm Lãi và Văn Chủng quả là có tình nghĩa đồng liêu có một không hai vậy. Cả hai đều tài giỏi mà không thấy nảy sinh ganh ghét đố kị nhau, hay mưu đoạt quyền lợi tranh giành địa vị. Khi dứt áo ra đi, Phạm Lãi để lại thư cho Văn Chủng cảnh báo về số phận có thể đến với Văn Chủng nếu còn thờ Việt vương, nhưng Văn Chủng đã không biết nghe theo. Còn khi Văn Chủng được lệnh Việt vương truy bắt Phạm Lãi, ông biết rằng Phạm Lãi bị bắt về ắt phải chết nên ông đã trì hoãn để cho bạn mình chạy thoát.

Khi Việt vương thua trận, phải sang Ngô làm con tin, Phạm Lãi nhẫn nhịn theo vua chịu nhục, làm kẻ hầu cho kẻ quét phân ngựa, từ chối lời mời làm công khanh nước Ngô do Phù Sai mếm tài khuyên nhủ, nhiều lần bấm quẻ, bày kế giúp vua Việt nhẫn chịu qua khổ nạn. Có thể nói ý chí của vua Việt là phi thường, còn Phạm Lãi chính là mảnh đất nuôi dưỡng ý chí ấy.

Sau ngần ấy năm khốn khó của bậc anh tài nhất mức ấy, Phạm Lãi trở về nước Việt cùng vua Việt cũng không có ý tham luyến công danh địa vị. Sau khi cùng Văn Chủng giúp vua Việt bình định nước Ngô, chán ngán thế sự hẩm hiu, tình đời nóng lạnh, Phạm Lãi đã bỏ đi vào vùng Ngũ Hồ, không ở lại nước Việt làm quan nữa. Cũng vì ông nhận ra vua Việt khi ấy là người chỉ có thể gần lúc khó khăn chứ không thể ở bên khi vô sự, là người dễ nhận nhịn trong gian khó chứ không nhớ ơn kẻ cứu giúp mình.

Phạm Lãi có trung có nghĩa, hành động biết thuận với thiên thời. Chính vì vậy mà ông từ quan, 2 lần được hưởng giàu sang tột bậc, 2 lần phân tán tài sản cứu thế độ nhân. Cái giàu sang của Phạm Lãi là cái giàu sang có thể giữ gìn muôn thuở vậy.

Công hầu khanh tướng mặc ai
Riêng ta một tiếng cười dài thiên niên

Vô Bích