Home / Chiến Tranh Lịch Sử / Danh Tướng / Thống tướng Douglas MacArthur – Ân nhân của Nhật Bản – Phần I

Thống tướng Douglas MacArthur – Ân nhân của Nhật Bản – Phần I

MacArthur – Ân nhân của Nhật Bản

Người Nhật Bản ban đầu chào đón MacArthur với sự nghi ngờ và quan tâm dè dặt. Nhưng vào lúc ông ra đi, họ đã xếp hàng dài tiễn đưa ông lên máy bay về Mỹ. Có nhiều người đã khóc trong cảm kích.

MacArthur được bổ nhiệm làm Tư lệnh tối cao lực lượng Đồng minh ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương vào tháng 8 năm 1945, đồng nghĩa với việc ông có quyền quyết định số phận của Nhật Bản sau chiến tranh.

Ông đến Tokyo vào ngày 30 tháng 8, được giao nhiệm vụ giám sát việc xuất ngũ của các lực lượng quân sự Nhật Bản cũng như khôi phục nền kinh tế đất nước này. Vào ngày 2 tháng 9 năm 1945, khi ông chính thức chấp nhận Nhật Bản đầu hàng trên tàu USS Missouri ở Vịnh Tokyo, ông cam kết rằng ông sẽ làm bất cứ điều gì trong khả năng của mình để tạo ra một thế giới tốt hơn cho người dân Nhật Bản. Và thực sự ông đã giữ lời hứa như là danh dự của một vị tướng.

Trong khoảng thời gian ngắn 6 năm, ông đã làm việc chăm chỉ để hoàn thành mục tiêu xóa bỏ chế độ phong kiến ​​Nhật Bản và cải cách hệ thống chính trị, kinh tế và giáo dục hoàn toàn dựa trên mô hình của Mỹ. Ông mở đường cho Nhật Bản thịnh vượng và trở thành một quốc gia tiến bộ trong lĩnh vực kinh tế – chính trị – xã hội.

Sau khi đến Nhật Bản, MacArthur đã ngay lập tức cấm quân đội Đồng minh tấn công người Nhật và lấy thức ăn của họ. Ông yêu cầu Chính phủ Hoa Kỳ cung cấp cứu trợ thực phẩm khẩn cấp cho Nhật Bản để ngăn chặn nạn đói và bất ổn chính trị. Sau sự sụp đổ của chính quyền cầm quyền và các thành phố chính bị phá hủy, Nhật Bản ở trong tình trạng nghèo đói – 9 triệu người vô gia cư, 13 triệu người thất nghiệp và 10 triệu người đang sống đói khát.

Tướng MacArthur ký văn kiện chấp nhận sự đầu hàng của Nhật Bản trên chiến hạm Missouri tại Vịnh Tokyo năm 1945

Ở bên bờ vực của nạn đói, với chi phí thực phẩm tăng 7,5 lần, MacArthur đã ưu tiên đưa ra một giải pháp để giải quyết. Ông đã thiết lập một mạng lưới phân phối thực phẩm và giảm quân số và quân nhân Hoa Kỳ xuống còn 200.000 người, tận dụng thực phẩm dư thừa để giúp đỡ người dân Nhật Bản.

Trong năm tài chính 1946, Chính phủ Hoa Kỳ đã cung cấp cứu trợ thực phẩm khẩn cấp trị giá 92 triệu đô la Mỹ.

Quốc hội Hoa Kỳ đã đáp ứng tất cả các yêu cầu để cứu sống những người Nhật đang đói khát được thúc đẩy bởi MacArthur. Kết quả là vào năm 1948, các công chức Nhật Bản được hưởng chế độ ăn 2.000 calo mỗi ngày. Năm 1949, trữ lượng lương thực của nó lên tới 3 triệu tấn, trong khi sản lượng gạo năm 1950 đạt 9,5 triệu tấn. Chính phủ Nhật Bản đã lên kế hoạch bãi bỏ chương trình tem thực phẩm vào tháng 4 năm 1951 nhưng phải hoãn lại vì Chiến tranh Triều Tiên và Trung Quốc đột ngột can dự.

MacArthur khuyến khích hình thành nền dân chủ kiểu Mỹ ở Nhật Bản. Ông tiếp tục thúc đẩy cải cách dân chủ Nhật Bản bằng cách ban hành Chỉ thị Thần đạo để bãi bỏ sự ủng hộ của nhà nước đối với tôn giáo Shinto, vì quân Đồng minh nghĩ rằng Nhà nước Shinto, là một đóng góp chính cho chủ nghĩa dân tộc cực đoan và quân phiệt Nhật Bản dẫn đến Thế chiến II.

Vào ngày 4 tháng 10 năm 1945, ông cũng ra lệnh thả tất cả các tù nhân chính trị, và quyết định xét xử và trừng phạt tất cả các tội phạm chiến tranh của Nhật Bản.

Để thực hiện nó, các thẩm phán Mỹ đã tổ chức nhiều tòa án quân sự khác nhau, phát hiện ra từ 500-700 quan chức có tội, trong đó 149 người bị kết án tử hình. Hai mươi tám nhà lãnh đạo quân sự và chính trị đã bị xét xử và buộc tội tại Toà án quân sự quốc tế về vùng Viễn Đông ở Tokyo, 25 trong số đó bị kết tội, với sáu bị cáo bị kết án tử hình.

Phi quân sự hóa Nhật Bản

MacArthur chủ trương thành lập quân đội chiếm đóng đất nước để tạo ra một Nhật Bản phi quân sự hóa, dân chủ hóa và phi tập trung hóa. Chỉ huy tối cao cho các cường quốc đồng minh được trao quyền kiểm soát trực tiếp các đảo chính của Nhật Bản (Honshu, Hokkaido, Shikoku, Kyushu) và các đảo xung quanh để hạn chế chủ quyền quốc gia, trong khi các tài sản xa xôi bị chia rẽ giữa các cường quốc Đồng minh.

Sự chiếm đóng kéo dài trong 6 năm 8 tháng và kết thúc vào ngày 8 tháng 9 năm 1951, khi 51 quốc gia ký Hiệp định Hòa bình San Francisco. Sau khi Hiệp ước có hiệu lực vào ngày 28 tháng 4 năm 1952, Nhật Bản trở thành một quốc gia có chủ quyền độc lập, và năm 1956, nó gia nhập Liên hợp quốc.

Hoa Kỳ đã huy động 350.000 quân thường trú ở Nhật Bản để đảm bảo tuân thủ các điều khoản đầu hàng của họ. Lính Mỹ giải phóng tù nhân, sa thải tất cả các quan chức quân đội, giải giáp và giải tán Quân đội Nhật Bản, buộc hơn 7 triệu lính Nhật phải nghỉ hưu và trở về với gia đình.

Ngoài ra, Hải quân Nhật Bản cũng bị bãi bỏ, trong khi tất cả đạn dược, vũ khí và tất cả các thiết bị quân sự đã bị phá hủy. Ngành công nghiệp quân sự chuyển sang sản xuất hàng tiêu dùng.

Tướng MacArthur và Hoàng đế Nhật Bản Hirohito

Tướng MacArthur cũng nhấn mạnh rằng, Hoàng đến Hirohito sẽ vẫn tại vị.

Quyết định của ông cho phép Hoàng đế ở lại ngai vị là một điều gây tranh cãi. Nó đã gặp phải sự kháng cự mạnh mẽ từ các nhà lãnh đạo chính trị và quân sự của Đồng minh, những người đã thúc đẩy Hirohito bị xét xử như một tội phạm chiến tranh. Trong khi Hirohito tự nhận trách nhiệm hoàn toàn cho Chiến tranh Thái Bình Dương, MacArthur coi Hoàng đế là biểu tượng của Nhật Bản – một trong những yếu tố tốt cho sự ổn định và hài hòa – và cho rằng ý tưởng đưa ông ra xét xử sẽ không được người dân Nhật Bản chấp nhận.

Nếu không có sự hiện diện của hoàng đế, tướng MacArthur nghĩ rằng quốc gia sẽ rơi vào hỗn loạn, vì nó sẽ bị chia rẽ do các cuộc đấu tranh phe phái, dẫn đến bất ổn chính trị. Trong trạng thái đó, ông đưa ra giả thuyết rằng binh lính Nhật Bản sẽ phát động một cuộc chiến đấu du kích chống lại quân chiếm đóng. Quyết định của McArthur đã được chứng minh là đúng đắn, vì người dân Nhật Bản có truyền thống trung thành tuyệt đối với các Hoàng đế, và họ không có bất kỳ hành động nào phản đối sự chiếm đóng của người Mỹ.

MacArthur và Hoàng đế Hirohito đã gặp nhau tổng cộng 11 lần và Hoàng đế đã chấp nhận các chính sách của chính phủ Nhật Bản được đưa ra dưới sự hướng dẫn của ông. Vào ngày 1 tháng 1 năm 1946, Hirohito đọc Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân loại (Ningen-sengen) trên đài phát thanh. Lần đầu tiên trong lịch sử, Hoàng đế tuyên bố rằng ông là một người bình thường, từ bỏ khái niệm trở thành một vị thần sống, điều đó có nghĩa là ông cũng từ bỏ quyền lực tối cao của mình đối với quốc gia. Tuyên bố này đã khiến MacArthur trở thành nhà lãnh đạo quyền lực nhất tại Nhật Bản.

Nền Dân Chủ Nhật Bản

Đồng thời với việc xóa bỏ triệt để chủ nghĩa quân phiệt Nhật Bản, MacArthur đã phát động một cuộc cải cách dân chủ toàn diện của Nhật Bản về chính trị, kinh tế và giáo dục, bắt đầu từ việc sửa đổi Hiến pháp.

MacArthur đã thúc đẩy sửa đổi Hiến pháp Meiji – Minh Trị, được ban hành vào năm 1889, để dân chủ hóa đất nước. Vào tháng 2 năm 1946, Quốc hội Nhật Bản đã đệ trình bản dự thảo Hiến pháp đầu tiên, nhưng nó không được ông chấp nhận. Ông đã tạo ra một Hội đồng gồm 25 người Mỹ và yêu cầu họ soạn thảo Hiến pháp mới trước cuộc họp của quân Đồng minh (26/2/1946), để nước ngoài không thể can thiệp vào chính trị Nhật Bản.

Hiến pháp mới do người Mỹ soạn thảo thể hiện quan điểm của Hoa Kỳ về tự do, dân chủ và quyền độc lập. Hoàng đế bị tước bỏ quyền chủ quyền tối cao, được chuyển giao cho người dân, và chỉ đóng vai trò là biểu tượng của Nhà nước và sự thống nhất của nhân dân. Thay đổi triệt để quyền lực của Hoàng đế đã xóa sạch chế độ độc tài phong kiến ​​và hạ bệ trụ cột tinh thần của chủ nghĩa dân tộc Nhật Bản.

Quan trọng nhất, Điều Chín đã được thực hiện. Bài báo nêu rõ: Chiến tranh, như một quyền chủ quyền của quốc gia bị bãi bỏ. Nhật Bản từ bỏ nó như một công cụ để giải quyết tranh chấp và thậm chí để bảo vệ an ninh của chính mình. Không có Quân đội, Hải quân hoặc Không quân nào của Nhật Bản sẽ được ủy quyền và không có quyền tuyên chiến nào sẽ được trao cho bất kỳ lực lượng nào của Nhật Bản.

Hiến pháp cũng đảm bảo các quyền lợi cơ bản của con người, mang lại cho người dân Nhật Bản quyền tự do ngôn luận và hội họp. Nó cũng giới thiệu phụ nữ, cho họ quyền bầu cử.

Vào ngày 10 tháng 4 năm 1946, Nhật Bản đã tổ chức cuộc tổng tuyển cử đầu tiên và bầu ra Chính phủ đầu tiên và thủ tướng hiện đại đầu tiên của mình – Shigeru Yoshida. Hoàng đế Hirohito và đại đa số người dân Nhật Bản ủng hộ Hiến pháp mới. Vào ngày 3 tháng 11 năm 1946, Hoàng đế trình bày Hiến pháp trước Quốc hội, bắt đầu thực hiện nó từ ngày 3 tháng 3 – đánh dấu chiến thắng của cải cách chính trị.

Còn tiếp (…)

Theo The BL

About Vô Bích