Thứ ba: Định tước

Muốn chiến đấu, phải định tước vị, nêu rõ công và tội; thu nạp các kẻ du thuyết, ban bố lời răn dạy, thăm hỏi dân chúng của mình, tìm mời nhân tài của mình, bấy giờ mới lo tính các vấn đề quan trọng, giải quyết các việc hiềm nghi, dưỡng sức, tìm tòi các điều hay ho khéo léo, lợi dụng sự khích động nhân tâm

Muốn chiến đấu, phải củng cố tinh thần của dân chúng, quan sát điều lợi, dẹp trừ mối loạn, tới hoặc nghỉ đều theo đường chính, xây dựng liêm sĩ, ước định pháp luật, xét phạt các tội nhỏ, rồi giết những kẻ phạm tội nhỏ hơn là những kẻ phạm tội lớn, bấy giờ sẽ thuận theo trời, làm tăng them tài sản, làm đẹp lòng dân chúng, sử dụng các lợi thế của đất đai, nâng đỡ quân binh, đó là năm điều lo liệu.

Thuận trời thì theo thời;Làm tăng thêm tài sản thì lợi dụng tài sản của địch; Làm đẹp lòng dân chúng thì làm cho họ thuận theo mình; Sử dụng lợi  thế của đất đai thì đóng giữ các nơi hiểm trở; Nâng đỡ quân binh thì giúp họ chống đỡ cung tên, giữ họ khỏi bị thù mâu, che chở họ khỏi bị quá khích.

Năm binh (1) có năm việc nên làm: Trường binh che chở đoản binh; Đoản binh cứu giúp trường binh; Thay nhau mà đánh thì được lâu dài; Cùng đánh một lần thì mạnh mẽ; Thấy các việc ngang nhau, đó gọi là làm chủ cả hai, hãy gắng theo cho kịp, xem địch mà cử động.

Lòng của các tướng là lòng của ta; lòng của dân chúng là lòng của ta, Ngựa, trâu, xe, binh, an nhàn, no đủ, đó là sức mạnh.

Điều cốt yếu của sự răn dạy là dự liệu, điều cốt yếu của sự chiến đấu là tiết độ.

Tướng quân là thân thể, lính tráng là tay chân, hàng ngũ là ngón cái. Đánh nhau là dùng mưu trí, chọi nhau là dùng sự mạnh dạn, bày trận là sắp đặt khéo léo. Ta dùng cái gì ta muốn, ta làm điều gì có thể làm; trái lại nếu địch có điều gì mà ta không muốn, hoặc làm được điều gì mà ta không thể làm thì ta phải phá bỏ những điều ấy.

Muốn chiến đấu, phải được thời trời, phải có tài sản, phải thực khéo giỏi.   

Ngày giờ chẳng sai lệch, bói được quẻ tốt và hành động kín nhẹm, đó là được thời trời.

Dân chúng có đủ, nhờ có đủ mà làm điều tốt lành, đó là có tài sản. 

Người được tập luyện, trận bày sắc bén, sắp đặt các việc hết mức để dự bị, đó gọi là khéo léo. 

Người ráng làm tròn nhiệm vu, đó gọi là làm cho người vui. Đại quân đã vững chắc(2), nhiều lực đã phức tạp, xử sự thì biết kén chọn, sửa trị, gặp việc thì biết ứng biến, đó gọi là biết dự liệu sẵn sàng.

Xe có nhẹ nhàng, lính bộ nhanh nhẹn, cung tên vững chắc để chống địch, đó gọi là đại quân (quân mạnh). 

Kín đáo, lặng lẽ, bên trong ngầm chứa sức mạnh, đó gọi là chiến trận vừng bền. 

Nhân đó mà tiến thoái dễ dàng tùy ý, đó gọi là nhiều sức. 

Cấp trên thong thả tập luyện quân sĩ, đó gọi lả bày trận phức tạp.

Đã có người chịu nhận chức phận, đó gọi là quen việc. 

Nhàn do phân biệt công việc đó gọi là kén chọn,sửa trị, cất nhắc dân chúng.

Tùy theo đất đai, tùy theo địch tình mà khiến bày trận  để chiến đấu, giữ gìn, tới lui, ngừng nghỉ, trước sau sắp bày xe, lính, do đó gọi là tham chiến.

Không phục, không tin, không hòa, giải đãi, nghi ngờ, chán nản, sợ sệt, chống cự người ở trên, bỏ bê công việc, buông thả, suy sụp, chậm chạp, đó gọi là tai họa của chiến tranh.

Kiêu căng, sợ sệt, ồn ào, an vui, lo lắng, hối tiếc đó gọi là hư hỏng.

Lớn nhỏ, cứng mềm, xen lẫn nhiều ít với nhau tất cả hai thứ đó gọi là phép quyền biến trong khi chiến đấu.

Khi chiến đấu, phải xét xa xem gần, lợi dụng thời cơ và của cải, tin người sang, ngờ kẻ ác, dùng binh hợp nghĩa làm việc hợp thời, khiến cho người tuy thương nhau mà lo đối địch, tuy yên tĩnh mà đề phòng rối loạn, tuy nhàn hạ mà lo nguy biến, gặp cảnh gian nan mà khồng hề quên dân chúng.

Khi ra trận lấy sự tin cậy lảm ân huệ; trong quân lữ dụng võ công để mở rộng; khi giao chiến lấy sự mau lẹ làm thành quả. Điều cốt yếu tại triều là sự hòa hợp, trong quân lữ là pháp lệnh, khi giao chiến là sự giết địch. Điều cần thấy rõ tại triều là sự tốt lành, trong quân lữ là phương lược, khi giao chiến là sự đúng đắn.

Trong triều, đi thì thưa thớt, đánh thì đậy kín, dùng binh thì đủ loại. Về người thì phải dạy cho sâu; giữ bình tĩnh để trị yên; uy tín lợi ở chỗ phân minh. Cùng giữ đạo nghĩa với nhau thì mọi người đều gắng sức; lo liệu nhiều việc được thành công thì mọi người tùng phục; người người thường ngay thẳng tùng phục sau mới trị yên được. Sự vật đã phân minh thì mắt bèn sáng suốt, lo liệu công việc đã yên ổn thì lòng trở nên mạnh mẽ. Tới lui không nghi ngờ(3), thấy địch thì không còn nghe mưu kế nữa(4), phải đánh chúng mà không chờ hỏi tên chúng(5), không chờ đổi cờ.

Việc tốt lành thì được lâu dài; theo xưa thì phải thề hẹn; làm việc phân minh thì lòng người mạnh mẽ; dẹp điều ác là điều tốt lành.

Phép dẹp điều ác là:

Một là nêu đạo nghĩa, lấy sự tin thực vả sức mạnh để đem đạo nghĩa đến nơi đến chôn, làm cho hình thế của một cõi thiên hạ trở thành nền gốc vững vàng, người người chẳng ai mà không đẹp lòng, đó gọi là dùng hết thảy mọi người.

Một là biết dùng quyền mưu khi gặp biến, gây đựng được đầy đủ, giành lấy điều tốt lành, ta ở bên ngoài mà sai khiến từ bên trong.

– Một là người; 

– Hai là ngay thẳng (thứ tự; kỉ luật);

– Ba là lời dạy 

– Bốn là khéo léo (tay nghề) 

– Năm là lửa 

– Sáu là nước 

– Bảy là binh nhu (đồ dùng của quân lính)

Đó là việc binh.

Vinh, lợi, thẹn, chết đó là bốn điều phải giữ gìn. Giữ sức chứa uy chẳng qua đổi ý. Phàm theo phép ấv, chỉ nghĩ điều nhân thì được kẻ thân, được điều nhân thì thiếu uy tín, khi thất bại thì thiệt hại thân mình. Người người phải ngay thắng, lời lời phải như lửa đốt.

Phép đánh giặc là sau khi đã tạo thảnh khí thế, nhân đã bày ra kỉ luật, ta bèn dùng sắc mạo để dẫn dụ, dùng lời nói để khuyên bảo, nhân họ sợ sệt mà răn đe họ, nhân họ ham muốn mà buộc họ làm việc, xông tới quân địch mà giành đất, dùng chức tước để sai khiến, đó gọi là phép đánh giặc.

Phàm hình thức của đời sống con người là do sự cầu mong của mọi người. Thử xét những ai lập hạnh hành động theo danh nghĩa thì họ đều làm điều lành. Nêu hạnh ấy không thực hành thi ta phải tự mình trực tiếp giúp đỡ họ. Nếu hạnh ấy thực hành được thì ta nhân đó khiến họ đừng quên ba giềng mối (Vua Tôi, Cha Con, Vợ Chồng), nhờ đó vạch rõ nghi thức của đời sống con người, đó lả phép tắc.

Phép trừ loạn là:

Thứ nhất: Nhân ái; 

Thứ hai: Tín thực; 

Thứ ba: Ngay thắng; 

Thứ tư: Chuyên nhất; 

Thứ năm: Chính nghĩa; 

Thứ sáu: Quyền biến; 

Thứ bảy: Tôn nghiêm.

Cách đặt phép tắc là:

Thứ nhất: Dung nạp người; 

Thứ hai: Đặt ra pháp luật; 

Thứ ba: Xây dựng 

Thứ tư: Làm việc mau mắn;

Thứ năm: Chế ngự việc ăn ở, sinh nhai 

Thứ sáu: 

Thứ bảy: Các quan về hưu không được sống xa hoa.

Quân binh áp dụng pháp luật cho chính mình thì gọi là chuyên, cùng kẻ dưới (dân chúng) sợ pháp luật thì gọi là pháp.

Quân binh không nên nghe theo việc nhỏ, khi đánh khỏng nên tham lợi nhỏ, mỗi ngày đều thành công, làm nên được việc vi diệu, đó gọi là đạo (dạy).

Hễ đánh giặc chỉ dùng chính pháp mà không dùng phù pháp thì việc chuyên nhất. Có những kẻ không phục tùng thì ta áp dụng pháp luật đối với họ, có những kẻ không tin cậy nhau thì ta hợp nhất họ lại. Nếu có kẻ lười biếng thì bắt họ hành động; nếu có kẻ nghi ngờ thì ta biến cải họ; nếu nhân dân không tin thực đối với người bề trên thì ta phải đối xử sao cho không còn như thế nữa, đó là phép chính trị của người xưa.

****

(1) Dùng năm thứ binh khí là: Mâu, kích, việt(búa), thuẫn(mộc), cung tên

(2) Ở đây chữ đi được dịch theo nghĩa xưa “đã” để phù hợp vơí ý nghĩa cuả những câu tiếp theo (xin độc giả tiếp tục xem ở sau)

(3) Biết kỹ thì không còn nghi ngờ.

(4) Đã chuẩn bị các mưu kế từ trước nên gặp địch thì có thể hành động ngay.

(5) Đã biết rõ địch từ trước