Tàu sân bay là biểu tượng sức mạnh của Hoa Kỳ và những nước sở hữu chúng, cũng là mục tiêu của các nước thù địch với họ, từ công kích bằng miệng lưỡi đến việc phát triển các vũ khí và chiến lược đối phó. Tiêu biểu là các nước Liên Xô – Nga và Trung Quốc. Nhưng liệu việc này có thể thực hiện được và khả năng nó xảy ra có cao không?

Tiếp theo phần I

Cách thức vận hành tối ưu an toàn

Là quốc gia có lịch sử vận hành tàu sân bay lâu dài nhất thế giới cả ở thời bình cũng như trong chiến trận, Hoa Kỳ có nhiều kinh nghiệm trong việc vận hành cỗ máy chiến tranh này một cách trơn tru và an toàn, đặc biệt là trong chiến trận. Cách họ sắp xếp máy bay, phân bố vũ khí đạn dược, vận chuyển và lắp vũ khí cũng như tiếp nhiên liệu cho máy bay được chú ý sao cho những quả bom và tên lửa được bảo vệ kỹ lưỡng nhất có thể. Việc lắp hoặc tháo vũ khí khỏi máy bay chiến đấu được thực hiện nhanh chóng, khiến cho thời gian vũ khí đứng chờ trên sàn boong là ngắn nhất, và số lượng vũ khí ở trạng thái chờ là nhỏ nhất. Hơn nữa, máy bay chiến đấu không được lắp vũ khí và tiếp nhiên liệu trong hầm chứa máy bay, đơn giản vì kinh nghiệm cho thấy đó là một ý tưởng khá tồi.

Các tàu sân bay Hoa Kỳ thường có 4 thang máy vận chuyển máy bay và vũ khí từ khoang dưới lên trên mặt boong tàu, vừa tối ưu thời gian vận chuyển khi xảy ra xung đột, vừa có phương án dự phòng khi bất cứ thang máy nào bị trục trặc vì yếu tố kỹ thuật hoặc bị tổn hại khi tác chiến.

Một chiếc tiêm kích hạm FA 18 Hornet cất cánh bằng máy phóng hơi nước

Ngoài ưu điểm máy phóng máy bay (hơi nước ở lớp Nimitz và điện từ ở lớp Ford), một điểm cộng cho chu trình cất hạ cánh máy bay trên tàu sân bay của Hoa Kỳ là nó được sắp xếp 4 đường cất hạ cánh thay vì 1 hoặc 2 đường như các tàu sân bay của các quốc gia khác. Điều này có nghĩa là tải trọng vũ khí và nhiên liệu máy bay mang theo sẽ lớn hơn, phóng được nhiều máy bay lên không trung hơn trong cùng một khoảng thời gian, và tàu chiến mang thêm được nhiều máy bay hơn vì khoảng cách chạy đà cần thiết ngắn hơn. Đó là nói về giả sử tàu sân bay của các nước trên thế giới cùng một kích thước. Trên thực tế, tàu sân bay của Hoa Kỳ luôn lớn hơn đáng kể so với các tàu sân bay đối thủ. So sánh đơn giản, tàu sân bay Charles de Gaulle là tàu sân bay tiệm cận gần nhất về công nghệ với các tàu sân bay của Mỹ, cũng chỉ có 2 máy phóng máy bay và mang được từ 28 – 40 máy bay so với con số 90 máy bay như các tàu sân bay của Hoa Kỳ. Với tàu sân bay lớp Nimitz, số lượt cất hạ cánh máy bay 1 ngày được đảm bảo ở mức 200 – 220 lượt, một con số không tưởng đối với các tàu sân bay khác trên thế giới. Với lớp tàu sân bay mới – lớp Ford, khả năng con số này sẽ cao hơn.

Ngoài ra, các tàu sân bay Hoa Kỳ còn có các hệ thống dự phòng cho các tình huống khẩn cấp, những thứ có thể cứu thoát con tàu khỏi khả năng phải đứng yên một chỗ một khi xảy ra hư hại ở các hệ thống động lực chính khi xảy ra đụng độ. Trong quá khứ, chiến hạm lừng danh Bismarck của Đức phải chấp nhận số phận bị đánh chìm khi hệ thống động lực của mình bị hư hại dẫn đến không thể tiếp tục di chuyển. Ở nhiều trường hợp, miễn là con tàu còn di chuyển được, nó có thể tránh thoát khỏi bị đánh chìm và điều này góp phần giảm thiểu thiệt hại cả về lực lượng, nhân lực cũng như sức mạnh của quân đội.

USS_Ronald_Reagan diễn tập chữa cháy

Có một điểm mà ít khi người ta để ý đến nữa là hệ thống cứu hỏa với mạng lưới các vòi phun nước dày đặc trên sàn tàu sân bay có khả năng dập tắt các đám cháy cực nhanh một khi xảy ra tai nạn hay bị trúng đạn. Vận hành gần 100 chiếc tàu sân bay suốt gần 100 năm qua cho Hải quân Mỹ nhiều kinh nghiệm để đối phó với các đám cháy như vậy. Hệ thống này được thiết kế để có thể tạo ra một cơn bão nước thực sự trên boong tàu, vì vậy hạn chế tối đa thiệt hại có thể xảy ra.

Ronald Reagan (CVN 76) diễn tập chữa cháy vào tháng 5 năm 2003

Vũ khí trên tàu sân bay và đội hình hộ tống

Bảo vệ một tàu sân bay bao giờ cũng gồm một vài tàu tuần dương Ticonderoga, tàu khu trục Arleigh Burke, và có thể là cả các tàu chiến hạng nhẹ như lớp LCS chẳng hạn, tùy nhiệm vụ. Chỉ riêng các tàu khu trục và tuần dương với trang bị hệ thống Aegis giám sát một vùng rộng lớn xung quanh nhóm tác chiến tàu sân bay cùng các tên lửa phòng không cực mạnh là SM 3, SM 6 đã trở thành một chiếc ô che đỡ rất đáng gờm. Các tên lửa này là những tên lửa phòng không mạnh nhất thế giới hiện nay, ngay cả khi Nga tuyên bố sự thực về các hệ thống S 400 và S 500, thì nó vẫn lép vế xa so với SM 3 và SM 6 của Hải quân Mỹ. Các tên lửa này chỉ có một nhược điểm, đó là chúng khá đắt đỏ, nhất là loại SM 3 Block IIA, người ta ước tính giá của nó từ 10 triệu – 24 triệu USD tùy thời điểm. Điều này cũng sẽ là một trở ngại đáng kể cho Quân đội Mỹ nếu muốn triển khai số lượng lớn, trừ phi họ tìm được cách tiết giảm giá thành.

Tên lửa đánh chặn mạnh nhất thế giới – SM 3 Block IIA của Mỹ

Ngoài khả năng phòng không, nhóm tác chiến này cũng có năng lực chống ngầm mạnh mẽ. Việc đội hình tác chiến di chuyển thành cụm cho phép họ triển khai và kết hợp năng lực đa dạng của các con tàu. Mỗi tàu có thể mang theo lượng nhất định phao thủy âm sonar, ngoài ra các máy bay trực thăng chống ngầm SH 60 cũng là hàng phòng thủ đáng gờm cho nhóm tàu chiến trước nguy cơ từ tàu ngầm đối phương khi nó có khả năng thả phao thủy âm sona và mang theo các vũ khí chống ngầm thả từ trên máy bay.

Các tàu ngầm tấn công cũng có thể hộ tống nhóm tác chiến tùy thời điểm và nhiệm vụ, mà vì yêu cầu bí mật, thông thường người ta không biết đến sự hiện diện của nó trừ những người chỉ huy cao cấp nhất trong nhóm tác chiến. Những chiếc tàu ngầm này đóng vai trò quan trọng trong việc chống ngầm, ra soát đáy biển nơi nhóm tàu sẽ đi qua, cảnh giới, báo động và thậm chí là trấn áp trước đối với những mối đe dọa tiềm tàng dưới đáy biển.

Hệ thống tên lửa đánh chặn tầm gần – RIM 116 của Hải quân Hoa Kỳ

Bản thân tàu sân bay cũng mang theo những vũ khí phòng thủ tầm gần đáng gờm là hệ thống RIM 116 – các tên lửa phòng không siêu âm tầm gần. Mỗi tàu trang bị 3 – 4 tổ hợp này, với 21 tên lửa mỗi tổ hợp tầm tiêu diệt mục tiêu là 9km. Nó cũng bao gồm các hệ thống Phalanx đa nòng cỡ 20mm tốc độ 4500 viên/ phút. Đây là một bức tường đạn dày đặc khiến tên lửa đối phương khó có thể vượt qua.

Ngoài ra, móng vuốt chính của nhóm tác chiến này là từ 70 – 90 máy bay chiến đấu luôn sẵn sàng cất cánh vừa có khả năng phòng thủ vừa có thể tấn công phủ đầu đối phương tạo ra một vành đai an toàn rộng hàng trăm km trên không trung.

Các tàu sân bay thường ở vị trí an toàn nhất, được che chắn trước sau trái phải bởi các chiến hạm hộ tống, các máy bay phía trên và tàu ngầm dưới mặt nước. Nó giống như thanh kiếm nhưng cũng là những trái tim của các nhóm tác chiến. Điều này càng tạo thêm nhiều rào cản cho ý định của đối thủ muốn hạ bệ nó. Đối thủ của nó có lẽ phải phóng hàng trăm tên lửa chống hạm vào nó chỉ với hi vọng một vài trong số đó có thể tấn công trúng mục tiêu. Nó nghe có vẻ không thực tế, kể cả khi những đối thủ của Hoa Kỳ sở hữu số lượng tên lửa lớn như vậy. Vì Hoa Kỳ không chỉ có 1 biên đội tàu sân bay, và ngoài tàu sân bay thì họ còn có nhiều vũ khí đáng gờm khác trên biển.

Tất cả những điều này là chưa kể đến các chế áp điện tử và các biện pháp đối phó điện tử khác mà nhóm tác chiến này và các đơn vị bạn của nó có thể thực hiện một khi xảy ra nguy cơ đụng độ có thể triển khai trên một loạt các máy bay trinh sát – cảnh báo sớm và cả các tên lửa tấn công điện tử thế hệ mới. Nó lại càng hạn chế khả năng những tên lửa được phóng từ khoảng cách hàng nghìn dặm có thể nhắm trúng vào các đội hình chiến đấu của họ, chưa nói đến việc trúng được vào các tàu sân bay trọng yếu.

Quân đội Trung Quốc có một lượng lớn ngư lôi và tên lửa chống hạm, bao gồm trong đó có cả các loại mang được đầu đạn hạt nhân, nhưng yếu tố đầu đạn hạt nhân này có thể được loại trừ vì một khi xảy ra chiến tranh hạt nhân, Trung Quốc sẽ cầm chắc thất bại thê thảm. Hoa Kỳ có thể để Trung Quốc lựa chọn mà không cần khơi mào trước dù có trong tay kho vũ khí hạt nhân khổng lồ.

Một ước tính của chuyên gia quân sự Hoa Kỳ – Bryan Clark, cựu sĩ quan Hải quân Hoa Kỳ và chuyên gia quốc phòng tại Trung tâm Đánh giá Chiến lược và Ngân sách (CSBA), nói với Business Insider rằng có lẽ Trung Quốc sẽ phải mất 600 tên lửa chống hạm – khoảng 75% kho vũ khí của họ để hạ gục một nhóm tác chiến tàu sân bay, nếu …. họ may mắn. Kể cả kết quả này xảy ra thì 25% kho vũ khí chống hạm của họ cũng sẽ trở nên vô dụng khi đối đầu với lực lượng còn lại của Hoa Kỳ.

Vào năm 2006, một tàu ngầm lớp Tống của Trung Quốc được cho là đã vượt qua hàng rào phòng thủ của nhóm tấn công tàu sân bay USS Kitty Hawk, nổi lên ở phạm vi có thể khai hỏa vào tàu sân bay khi nó đi qua Biển Đông, theo báo cáo của The Washington Times. Vụ việc được cho là khiến Hải quân Hoa Kỳ đánh giá lại cách tiếp cận với tàu ngầm Trung Quốc.

Hải quân Mỹ có thể khai hỏa rất nhiều và rất nhanh vào tàu ngầm vì nó  có xu hướng khá chậm với khả năng phòng thủ hạn chế, tàu ngầm đối phương chỉ có thể rút lui khi bị phát hiện.

“Một khi tàu ngầm đã được phát hiện và bạn bắt đầu ném vũ khí vào nó, nó sẽ phải rời đi vì nó quá chậm để trốn tránh, nó không có nhiều khả năng tự vệ và nó không có cảm biến cần thiết đứng lên và chiến đấu, “Clark nói với Business Insider

Câu hỏi lớn là: Liệu nhóm tấn công tàu sân bay của Hải quân Hoa Kỳ có thể phát hiện ra một tàu ngầm đối phương trước khi bị nó bắn hạ?

Hết

Vô Bích Tổng hợp