Home / Vũ Khí Quân Sự / Vũ Khí Không Quân / Vì sao Hoa Kỳ phải thực hiện chương trình F 35 đắt đỏ? – Phần 3

Vì sao Hoa Kỳ phải thực hiện chương trình F 35 đắt đỏ? – Phần 3

Có khá nhiều câu hỏi được đặt ra rằng, vì sao Hoa Kỳ phải thực hiện chương trình tốn công tốn của là nghiên cứu – chế tạo – sản xuất máy bay tiêm kích thế hệ 5 F 35 trong khi họ đã đưa tiêm kích F22 tối tân vào phục vụ mới được 10 năm. Việc nghiên cứu chế tạo các máy bay thế hệ 5 này rất tốn kém và phức tạp, vì nó đòi hỏi các công nghệ hoàn toàn mới, tùy theo yêu cầu về chiến lược của đất nước chế tạo chúng. Ngoài Hoa Kỳ, hiện nay nghiên cứu và phát triển máy bay thế hệ 5 còn có 2 nước khác. Với Nga là Su T 50. với Trung Quốc là J 20. Có một yêu cầu chung với các dòng máy bay này, đó là chức năng tàng hình – có độ bộc lộ nhỏ và thậm chí là không bộc lộ trước Radar đối phương. Vậy thì, vì sao Hoa Kỳ phải phát triển thêm 1 dòng máy bay phức tạp như thế. Trong khi các kỹ sư thiết kế F35 kêu trời, rằng họ đã phải đưa một số lượng công nghệ khổng lồ vào trong một khung máy bay. Điều này là chưa từng có.

Việc Hoa Kỳ vừa phê chuẩn bán lô tiêm kích 66 chiếc F16 phiên bản V cho Đài Loan hé lộ cho chúng ta một phần câu trả lời cho câu hỏi chúng ta đi tìm lời giải đáp. F22 với những công nghệ vượt trội về hệ thống điện tử, radar tiên tiến, động cơ ưu thế, công nghệ tàng hình, là điều tuyệt đối không thể chia sẻ với bất kể quốc gia nào khác, kể cả là những đồng minh thân cận nhất như Anh, Nhật Bản và Autralia, ít nhất là trong khoảng một thời gian 10-20 năm trước mắt hoặc lâu hơn.

Dây chuyền sản xuất của F22 đã dừng lại từ năm 2011 với con số 187 chiếc, và nước Mỹ sẽ không sản xuất thêm những chiếc F22 này. Có bao giờ bạn đặt câu hỏi rằng, chẳng lẽ người Mỹ quá tự tin vào phi đội F22 của mình để đối đầu với người Nga, hay người Trung Quốc trong khi các đối thủ ấy có đến hàng nghìn phi cơ chiến đấu cũng rất đáng gờm, mà lực lượng quân sự Mỹ thì lại phải trải khắp nơi trên thế giới? Hay là, họ đầu tư ra rất nhiều công sức và thời gian để nghiên cứu những công nghệ mới và thỏa mãn với chỉ gần 200 máy bay?

Có lẽ với những gì đã đầu tư ra với F22, người Mỹ không chỉ dừng lại ở việc chế tạo ra gần 200 chiếc máy bay tân tiến như vậy. Rất có thể những suy tính đã được đưa ra trong quá trình nghiên cứu phát triển F22, đó là tiềm năng công nghệ rất lớn để tiến hành nghiên cứu ra loại máy bay thế hệ thứ 6 vượt trội, đảm bảo ngôi vị thống trị bầu trời xa hơn và vững chắc hơn của Mỹ trước các đối thủ tiềm tàng hiện nay là Nga và Trung Quốc. Điều này có thể chắc chắn đến 60%. Để đảm bảo ngôi vị thống lĩnh của Mỹ trước những đối thủ cũng rất khó chơi và khó đoán này, tiến trước về công nghệ là một điều đương nhiên những bộ óc hoạch định tương lai sẽ phải nghĩ đến. Nga mới vừa hoàn thiện Su 57 một thời gian và thậm chí còn chưa có động cơ mới với yêu cầu thiết kế ban đầu, nó vẫn phải dùng các động cơ AL 41F của các tiêm kích thế hệ trước đó là Su 35, dù rằng rất tiên tiến, nhưng xem ra là chưa “chuẩn” thế hệ 5. Mỹ thì đã đưa F22 vào trực chiến từ lâu, và không nghi ngờ gì, nó vẫn là một máy bay thống trị bầu trời trong 10-20 năm nữa.

F16 là một dòng máy bay đa năng và dòng máy bay chiến đấu xuất khẩu chủ lực của ngành công nghiệp hàng không Hoa Kỳ. Nhưng những nâng cấp trên F16 đang dần trở nên thất thế trước việc các cường quốc như Nga và Trung Quốc tung ra những thế hệ tiêm kích thứ 5 của họ và ngỏ lời tiếp thị đến các nước trên thế giới, gồm cả những quốc gia là thị trường truyền thống của Hoa Kỳ. Thực ra, ngay cả với các tiêm kích thế hệ 4 của châu Âu hiện nay như Typhoon hoặc Rafale, hay máy bay tiêm kích tiên tiến thế hệ 4++ của Nga là Su 35, thì F16 cũng đã bắt đầu cho thấy mình đang đuối sức. Điểm mạnh của nó về giá thành và tính đa năng đa dụng và dễ dàng trong bảo trì bảo dưỡng, phụ tùng thay thế giá phải chăng vì dây chuyền sản xuất lớn, đã dần dần lu mờ trước những nhu cầu thiết thực của các nước về một thế hệ tiêm kích hiện đại hơn.

Su 57 dẫn đầu bộ 3 tiêm kích Nga

Tất nhiên là Mỹ sẽ không thể để mất thị phần béo bở này được. Nếu tính ra kg, mỗi kg máy bay chiến đấu hiện đại còn đắt hơn nhiều kim loại quý cùng khối lượng, và nhiều vũ khí công nghệ cao thậm chí có giá cả còn cao hơn nữa. Việc đánh mất thị trường thay vì mở rộng sẽ làm mất đi một nguồn tài lợi khổng lồ. Mỹ sẽ không muốn mất điều đó.

Họ sẽ càng không muốn mất đi những khách hàng quen thuộc đang mua chiến đấu cơ của họ, vì hầu hết các nước này là đồng minh của Mỹ, ở mức độ thân cận hoặc không thân cận. Nếu các quốc gia này biên chế các vũ khí – khí tài của Nga hoặc Trung Quốc, rất có thể hệ thống chia sẻ thông tin của cả khối liên minh với Mỹ sẽ bị ảnh hưởng, đó cũng chính là lý do vì sao Hoa Kỳ kiên quyết ngăn cản Thổ Nhĩ Kỳ mua hệ thống phòng không S400 của Nga, và khi ngăn cản không được, họ bắt buộc phải hủy tư cách của Ankara trong chương trình F35 và đưa các phi công Thổ Nhĩ Kỳ về nước sau khi chấm dứt khóa học đào tạo huấn luyện máy bay F35 của họ.

F 35 còn là một máy bay được trang bị hệ thống chia sẻ dữ liệu chiến trường và xử lý thông tin cực mạnh. Vì vậy mà khi các đồng minh của Hoa Kỳ trang bị loại vũ khí này, khi tham gia các nhiệm vụ chung, họ sẽ mất rất ít thời gian để tổng hợp các thông tin để các chỉ huy chiến trường của họ ra quyết định. Đây là một lợi thế vô cùng quan trọng với mạng lưới đồng minh của Mỹ, giống như câu nói: “Như hổ thêm cánh”

Một lý do nữa là F35 được phát triển theo hướng đa dạng biến thể: F35A dành cho không quân, F35B dành cho thủy quân lục chiến, F35 C dành cho Hải quân.

F 35A

F-35A là kiểu cất cánh và hạ cánh thông thường (CTOL-conventional takeoff and landing) dự định trang bị cho Không lực Hoa Kỳ và không quân các nước khác. Đây là phiên bản nhỏ nhất, nhẹ nhất, và là phiên bản duy nhất được trang bị pháo GAU-12/U gắn bên trong thân. Khẩu pháo 25 mm này được phát triển từ loại pháo M61 Vulcan 20 mm được trang bị trên các loại máy bay chiến đấu của Không lực Hoa Kỳ kể từ thời F-104 Starfighter, và cũng được trang bị trên loại máy bay AV-8B Harrier II của Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ.

F-35A không chỉ tương đương với F-16 về độ cơ động, phản ứng nhanh, chịu trọng lực G cao, nhưng còn vượt trội ở tính tàng hình, tải trọng, tầm bay với nhiên liệu chứa bên trong, thiết bị dẫn đường, sử dụng hiệu quả, hỗ trợ và khả năng sống sót. Nó cũng có khả năng trang bị thiết bị laser và cảm biến hồng ngoại.

F 35B

F-35B là phiên bản kiểu máy bay cất cánh đường bay ngắn và hạ cánh (STOVL-short take-off vertical landing). Về kích thước F-35B tương đương với F-35A của không quân, hy sinh một phần lượng nhiên liệu mang theo dành cho hệ thống bay thẳng đứng. Giống như AV-8 Harrier II, pháo trang bị được gắn trong một trụ treo dưới cánh. Bay thẳng đứng là một tính năng thử thách nhất, và sau hết, là yếu tố quyết định trong thiết kế.

Động cơ của F-35B có hiệu quả khuếch đại luồng khí thổi, gần giống như kiểu động cơ turbo-cánh quạt có hiệu quả đẩy luồng khí không cháy ở vận tốc thấp hơn, và đạt được hiệu quả tương đương như động cơ chính của máy bay Harrier, vốn to nhưng không hiệu quả ở tốc độ siêu âm. Giống như các động cơ nâng, các thiết bị bổ sung này làm nặng máy bay hơn khi bay, nhưng lực nâng mạnh hơn cũng giúp gia tăng tải trọng hữu ích khi cất cánh. Quạt mát hơn cũng giảm thiểu những tác hại của luồng khí nóng và mạnh gây ra cho lớp phủ đường băng hay sân đáp của hàng không mẫu hạm. Mặc dù mang đầy tính rủi ro và phức tạp, hệ thống được thiết kế đã hoạt động tốt và làm hài lòng các quan chức của bộ Quốc phòng Hoa Kỳ.

F 35C

Phiên bản F-35C dành cho hải quân sẽ có cánh lớn hơn và gấp được, diện tích các cánh điều khiển lớn hơn nhằm giúp điều khiển dễ dàng ở tốc độ thấp, và hệ thống hạ cánh chắc chắn hơn để chịu tải trọng khi hạ cánh trên hàng không mẫu hạm. Diện tích cánh lớn hơn giúp gia tăng tầm bay và tải trọng, tầm bay đạt gấp đôi F/A-18C Hornet với nhiên liệu chứa bên trong, đạt đến mức tương đương với máy bay F/A-18E/F Super Hornet vốn nặng hơn nhiều.

Chúng ta đều có thể thấy rằng tích hợp thêm các công nghệ cho 3 biến thể này vào khung thân F22 vốn được tối ưu hóa cho khả năng tàng hình và các công nghệ nó mang theo là điều bất khả thi, còn nếu muốn cố đạt được thì làm giảm đi rất nhiều hiệu quả của máy bay, vốn đã được thiết kế đến mức tới hạn, và có những công nghệ vượt qua những ước tính ban đầu của những nhà hoạch định. F22 đã quá hoàn hảo đến nỗi, bớt đi 1 chi tiết thành thiếu, thêm vào 1 chi tiết thành thừa.

Kết luận

F35 là mẫu máy bay chiến đấu tàng hình thế hệ thứ 3 của Không quân Hoa Kỳ, còn nếu tính cả máy bay ném bom chiến lược B2 – spirit thì Hoa Kỳ đã có 4 loại máy bay tàng hình đã qua biên chế sử dụng, nên đương nhiên kinh nghiệm, công nghệ và tốc độ phát triển của họ là rất nhanh chóng. Chúng ta có thể nghe thấy những phàn nàn về thời gian phát triển máy bay F35, nhưng trên thực tế đó là những bài báo công kích được dẫn lại lời phàn nàn của giới quan sát Mỹ, bao gồm cả các tiểu ban giám sát về quốc phòng của Thượng viện và Hạ viện Hoa Kỳ. Về nhiệm vụ của họ, đương nhiên họ cần phải có yêu cầu cao hơn đối với công việc sử dụng thuế của người nộp thuế Mỹ, việc của các nhà sản xuất máy bay là cho ra những máy bay đảm bảo chất lượng và tốt nhất có thể.

F35 hiện nay đã xuất xưởng và biên chế hàng trăm chiếc vào quân đội các nước, trong đó có Israel, Úc, Nhật Bản, Na Uy, vv…. với riêng số lượng đã biên chế trong quân đội Hoa Kỳ ở cả 3 phiên bản là xấp xỉ 200 máy bay, với số lượng đặt thêm khoảng 1800 – 2000 máy bay nữa. Chỉ riêng con số đã nói lên sự thành công của F35, và thực sự nó không phải như những gì nhiều người lầm tưởng, đặc biệt là khi so sánh với tốc độ phát triển của J 20 của Trung Quốc và Su 57 của Nga.

Quân Sự Mở Nét

About Vô Bích