Home / Vũ Khí Quân Sự / Vũ Khí Không Quân / Vì sao Hoa Kỳ phải thực hiện chương trình F 35 đắt đỏ? – Phần 2

Vì sao Hoa Kỳ phải thực hiện chương trình F 35 đắt đỏ? – Phần 2

Có khá nhiều câu hỏi được đặt ra rằng, vì sao Hoa Kỳ phải thực hiện chương trình tốn công tốn của là nghiên cứu – chế tạo – sản xuất máy bay tiêm kích thế hệ 5 F 35 trong khi họ đã đưa tiêm kích F22 tối tân vào phục vụ mới được 10 năm. Việc nghiên cứu chế tạo các máy bay thế hệ 5 này rất tốn kém và phức tạp, vì nó đòi hỏi các công nghệ hoàn toàn mới, tùy theo yêu cầu về chiến lược của đất nước chế tạo chúng. Ngoài Hoa Kỳ, hiện nay nghiên cứu và phát triển máy bay thế hệ 5 còn có 2 nước khác. Với Nga là Su T 50. với Trung Quốc là J 20. Có một yêu cầu chung với các dòng máy bay này, đó là chức năng tàng hình – có độ bộc lộ nhỏ và thậm chí là không bộc lộ trước Radar đối phương. Vậy thì, vì sao Hoa Kỳ phải phát triển thêm 1 dòng máy bay phức tạp như thế. Trong khi các kỹ sư thiết kế F35 kêu trời, rằng họ đã phải đưa một số lượng công nghệ khổng lồ vào trong một khung máy bay. Điều này là chưa từng có.

F22 – Một máy bay với sức mạnh vượt trội

Trong khi Liên Xô cũ và sau này là Liên bang Nga vật lộn với việc làm sao để nâng cấp các máy bay dòng Su 27 thế hệ 4 thành các máy bay Su 35 thế hệ 4++, người Mỹ nghĩ đến làm đến, họ đã bắt tay vào chế tạo máy bay F 22 từ những năm 1980 sau khi đã chế tạo thành công máy bay chiến đấu F117. Tức là, với máy bay tàng hình, với người Mỹ F22 đã là thế hệ thứ 2. Mặc dù có rất nhiều công nghệ mới được đưa vào F22, khiến nó khác biệt hoàn toàn so với F 117 Nighthawk, thì lý do chính mà người Mỹ thấy cần phải có chiến đấu cơ thay thế F117 chính là khả năng thao diễn và không chiến của nó không được tốt, vì khái niệm tàng hình đời đầu là dựa vào thiết kế hình dáng bên ngoài máy bay và do đó, hi sinh tính năng về khí động học, có kèm với khả năng thao diễn, tốc độ, vận tốc leo cao, vv…

F22 được thiết kế dựa trên sự kế thừa kinh nghiệm đã có từ việc chế tạo F117 trước đó, nó cũng được các kỹ sư sử dụng các phần mềm máy tính cực mạnh để hỗ trợ trong quá trình nghiên cứu chế tạo, vì vậy F22 có tính năng tàng hình thậm chí còn mạnh hơn Nighthawk, trong khi – theo như đánh giá của các kỹ sư thiết kế – thì nó cũng là một trong những máy bay tốt nhất thế giới về khí động học – nếu không muốn nói là tốt nhất. Nó có đường bay hiệu quả hơn hầu hết các chiến đấu cơ hiện nay trong không quân các nước.

Sự vượt trội của F22 có thể được liệt kê ở các phương diện sau

Công nghệ tàng hình

Công nghệ tàng hình là yêu cầu đầu tiên cần có ở một chiếc máy bay tiêm kích thế hệ 5. Khi các hệ thống radar ngày càng trở nên mạnh mẽ, các hệ thống vũ khí phòng không càng trở nên hiệu quả hơn, kể cả về tầm cao, tầm xa, độ chính xác thì việc làm sao cho đối phương càng khó phát hiện càng tốt đã trở nên một nhiệm vụ thực tế và quan trọng đối với các nhà thiết kế phát triển tiêm kích của các nước.

Nó đặc biệt hơn nữa ở chỗ, các khả năng về khí động học đã được các nước khai thác tối ưu ở các dòng máy bay của mình, mang lại một khả năng né tránh tên lửa không đối không và không chiến quần vòng ( cận chiến – dogfight) đã ở giới hạn của nó. Việc phát triển các vũ khí không đối không mạnh mẽ, chính xác và hiệu quả trong môi trường tác chiến điện tử mạnh cũng là điều mà các cường quốc không quân quan tâm. Tàng hình trở nên càng cần thiết cho khái niệm chiếm ưu thế trên không – một ưu thế mà nó sẽ khiến cho một quốc gia đảm bảo chiến thắng trên các chiến trường.

F22 có công nghệ tàng hình tuyệt vời. Tuy các thông số cụ thể rất khó có thể dược thông báo rộng rãi đến công chúng, người ta phỏng đoán rằng diện tích phản xạ radar của F22 tuy có thể vẫn hiện hữu nhưng rất nhỏ. Các kỹ sư thiết kế F22 tiết lộ, họ thiết kế tính năng tàng hình cho F22 dựa vào 80% ở kiểu dáng và 20% ở vật liệu, một tỷ lệ hoàn hảo. Trong một cuộc thử nghiệm mô phỏng ở Alaska hồi tháng 6/2006 có tên Rìa phương Bắc, F22 đã thể hiện xuất sắc với tỷ số 144 – 0 trước những chiếc máy bay thế hệ 4 của Hoa Kỳ trong việc đóng giả những chiếc máy bay thế hệ 4 mạnh nhất của không quân Nga khi đó. Trong khi đó, có nhiều lần số máy bay đối phương nhiều hơn số F22 là 4 lần. Đầu năm 2006, sau một cuộc diễn tập với chỉ 8 chiếc F-22 tại Nevada vào tháng 11 năm 2005, Trung tá Jim Hecker, chỉ huy Phi đội máy bay chiến đấu số 27 tại Căn cứ Không quân Langley, Virginia, đã bình luận “Chúng tôi đã tiêu diệt 33 chiếc F-15C và không hề chịu một thiệt hại nào. Họ không hề nhìn thấy chúng tôi nữa.”

Thêm vào đó, F22 được thiết kế với độ bộc lộ hồng ngoại rất ít, nếu không muốn nói là không có đặc biệt là nhìn từ phía trước máy bay. Để làm được điều này, các kỹ sư Mỹ đã cố giấu các động cơ vào sâu trong máy bay, và thiết kế lại ống lấy khí cho động cơ. Một điều đặc biệt nữa ở ống xả động cơ, đó là luồng khí được thiết kế để tản nhiệt một cách tốt nhất. Chính vì vậy, nó gần như vô hình trước các khí tài quan trắc của đối phương, cũng như không thể trở thành mục tiêu cho các tên lửa đẫn đường bằng radar và hồng ngoại dễ dàng được.

Công nghệ động cơ và khí động học

So sánh F22 với các máy bay thế hệ 4 khác, một chỉ huy không quân Australia phải thốt lên rằng, nó giống như so sánh một chiếc F1 với 1 chiếc xe đạp vậy. Hoàn toàn không tương xứng. F22 có đường bay vượt trội so với các máy bay khác, nhờ được hỗ trợ thiết kế bằng các máy tính cực mạnh của không quân cũng như đơn vị thiết kế của Lockhead Martin.

Chưa kể đến việc nó được trang bị loại động cơ thế hệ mới, điều này cho phép nó bay tuần tra ở vận tốc March 1.7 mà không cần đốt nhiên liệu lần 2. Việc đốt nhiên liệu lần 2 là một sáng kiến ngoài tính kỹ thuật thuần túy, nó giống như một phương pháp cải tiến tốc độ của máy bay nhất thời khi cần nhanh chóng tham chiến hoặc né tránh tên lửa đối phương. Đốt nhiên liệu lần 2 nhiều sẽ gấy ra tác hại ở động cơ, từ đó phải thay động cơ sớm. Một mặt khác, nó có hiệu năng thấp, nên để tăng tốc, máy bay cần đốt rất nhiều nhiên liệu. Như vậy hành trình của máy bay sẽ bị ảnh hưởng, nó cũng dễ dàng gặp nguy hiểm nếu như đang tham chiến hơn, vì đối phương sẽ ước lượng được khoảng nhiên liệu nó đã sử dụng. Thông thường một máy bay bình thường không có khả năng bay cao trên March 1.2 thậm chí là March 1 nếu không đốt nhiên liệu lần 2.

F22 có thể bay hành trình ở tốc độ March 1.7, tức là nó có thể nhanh chóng tham gia một cuộc không chiến hay một nhiệm vụ đột xuất nào mà không lo lắng quá nhiều đến nhiên liệu mang theo như cách máy bay khác. Mặt khác, sự ổn định của động cơ khiến cho vòng đời động cơ kéo dài, không mất công thay thế nhiều, tức là tỷ lệ thời gian sẵn sàng chiến đấu cao.

Công nghệ radar

Hệ thống radar của F22 là tối tân và đa nhiệm.

Ra-đa AN/APG-77 AESA, được thiết kế để chiếm ưu thế trên không và hỗ trợ trong thực thi nhiệm vụ, với các tính năng khả năng bị phát hiện thấp, độ mở chủ động, mạng quét điện tử có thể truy theo nhiều mục tiêu ở mọi điều kiện thời tiết. Ra-đa AN/APG-77 thay đổi tần số hơn 1.000 lần mỗi giây để giảm khả năng bị ngăn chặn. Ra-đa cũng có thể tập trung luồng phát làm quá tải các cảm biến của kẻ địch, khiến máy bay có khả năng tấn công điện tử.

Thông tin của ra-đa được hai Bộ Xử lý tích hợp chung (BXLC) do Raytheon chế tạo xử lý. Mỗi bộ BXLC xử lý 10.5 tỷ lệnh trên giây và có 300 megabyte bộ nhớ. Thông tin có thể được thu thập từ ra-đa và các hệ thống trên máy bay cũng như hệ thống khác ngoài máy bay, được BXLC lọc, và được cung cấp ở dạng phân loại trên nhiều màn hình hiển thị trong buồng lái, cho phép phi công luôn chủ động trong mọi tình huống phức tạp nhất. Phần mềm của chiếc Raptor được viết ra với hơn 1.7 triệu dòng mã, đa số chúng đảm nhiệm việc xử lý thông tin từ ra-đa.[46] Radar có tầm hoạt động 125-150 dặm, và các kế hoạch nâng cấp cho phép tầm 250 dặm hay nhiều hơn với chùm tia hẹp.[34]

Phi đội F22

Chiếc F-22 có nhiều tính năng duy nhất đối với một chiếc máy bay ở hình dạng và vai trò của nó. Ví dụ, nó có khả năng phát hiện và xác định mối đe dọa tương tự như khả năng của chiếc RC-135 Rivet Joint. Tuy trang bị của chiếc F-22 không tinh vi và mạnh mẽ bằng, bởi tính năng tàng hình của nó, nhưng cự li gần hơn hàng trăm dặm lại là ưu thế lớn trong chiến đấu.

F-22 có khả năng hoạt động như một “Hệ thống Cảnh báo và Kiểm soát trên Không” (AWACS) mini. Dù tính năng có bị giảm bớt để ưu tiên cho bộ phận khung như E-3 Sentry, nhưng đối với tính năng xác định mối đe doạ, sự có mặt phía trước của chiếc F-22 luôn là một ưu thế. Hệ thống cho phép chiếc F-22 xác định rõ các mục tiêu để cùng tham chiến với những chiếc F-15 và F-16, và thậm chí xác định được việc hai máy bay đồng minh đang cùng dự định tấn công một mục tiêu, nhờ thế cho phép cảnh báo chúng lựa chọn một mục tiêu khác. F-22 có khả năng xác định mục tiêu nhanh gấp hàng trăm lần so với việc nhận thông tin từ chiếc.

Khả năng ngăn chặn ra-đa thấp của chiếc F-22, nhờ tính năng truyền tải dữ liệu băng thông rộng, cho phép nó đóng vai trò một “dải băng rộng” có thể truyền dữ liệu tốc độ cao giữa các trạm phát và thu nhận đồng minh trong khu vực. F-22 có thể chuyển dữ liệu sang những chiếc F-22 khác, nhờ vậy làm giảm đáng kể hiệu ứng “nhiễu” sóng vô tuyến.

Với những ưu điểm như vậy, cùng với những vũ khí không đối không hàng đầu trong không quân Mỹ hiện nay, F22 đủ điều kiện là máy bay tiêm kích hàng đầu trên thế giới. Vậy thì vì sao không quân Hoa Kỳ lại phải theo đuổi chương trình F35 tốn tiền hao của, chúng ta sẽ cùng thảo luận tiếp ở phần sau.

Quân Sự Mở. Nét

About Vô Bích